Theo Điều 2 Nghị định số 337/2026/NĐ-CP, để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, cơ quan, đơn vị cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế. Trước hết, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin; đồng thời vận hành, duy trì và phát triển cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin và trang cộng đồng chính thức.
Cùng với đó, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm duy trì, lưu giữ, cập nhật và quản lý cơ sở dữ liệu thông tin bảo đảm thông tin được tổ chức có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, dễ dàng tra cứu, tải về và sử dụng; đồng thời thực hiện các biện pháp kỹ thuật, quy trình quản lý, bảo vệ thông tin theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc tăng cường ứng dụng công nghệ, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP cũng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết để người yêu cầu cung cấp thông tin có thể sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Việc cung cấp thông tin còn được tăng cường thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan, đơn vị (nếu có), trên phương tiện thông tin đại chúng và qua mạng Internet.
Để nâng cao hiệu quả thực hiện, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP đồng thời quy định việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin và bố trí hợp lý nơi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị.
Đối với người khuyết tật, Điều 3 Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Theo đó, căn cứ điều kiện thực tế, cơ quan, đơn vị trang bị, sử dụng công nghệ, thiết bị hỗ trợ phù hợp với dạng tật; đồng thời tạo điều kiện để người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng các thiết bị nghe, nhìn, thiết bị phụ trợ và phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để tiếp cận thông tin.
Trường hợp người khuyết tật gặp khó khăn trong việc điền Phiếu, ký Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin hoặc gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận thông tin, cơ quan, đơn vị bố trí người hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ.
Đáng chú ý, thông tin phải được công khai theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật phải được kịp thời công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức thuận lợi cho người khuyết tật. Đồng thời, cần tăng cường các hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của người yêu cầu và điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị; lồng ghép kiến thức, kinh nghiệm cung cấp thông tin đối với người khuyết tật trong các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn cho đầu mối cung cấp thông tin.
Đối với người dân tộc thiểu số và người sinh sống tại các khu vực có điều kiện đặc thù, Điều 4 Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp cung cấp thông tin phù hợp với từng đối tượng và điều kiện thực tế tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Theo đó, thông tin có thể được cung cấp thông qua cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị; hệ thống phát thanh, truyền hình, trong đó có chương trình bằng tiếng dân tộc và hệ thống thông tin cơ sở.
Bên cạnh các phương thức trên, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định việc xây dựng tài liệu chuyên đề, tờ rời, tờ gấp, ấn phẩm, video bằng tiếng dân tộc hoặc bằng hình ảnh trực quan, dễ hiểu, phù hợp với người dân tộc thiểu số và người dân sinh sống tại các khu vực nêu trên. Đồng thời, có thể tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để chia sẻ thông tin; phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tuyên truyền, công khai thông tin theo quy định.
Ngoài ra, hoạt động cung cấp thông tin được lồng ghép trong các sự kiện văn hóa, chính trị, xã hội của cơ quan, đơn vị, địa phương, trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và truyền thông các chính sách mới. Đối với những thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách của người dân tại các khu vực này, Nghị định quy định tăng thời lượng truyền, phát bản tin.
Đặc biệt, thông tin phải được công khai theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người dân tộc thiểu số và người dân sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn phải được kịp thời công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức thuận lợi cho người dân.
Trên cơ sở loại thông tin, đối tượng cần được cung cấp thông tin và điều kiện thực tế, cơ quan, đơn vị lựa chọn hình thức cung cấp phù hợp với khả năng tiếp cận của từng nhóm đối tượng; đồng thời bố trí người hướng dẫn, giải thích cho người yêu cầu cung cấp thông tin.
Với những quy định cụ thể về hạ tầng, công nghệ, phương thức cung cấp và hỗ trợ theo từng nhóm đối tượng, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP tạo cơ sở để việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin được tổ chức thuận lợi, phù hợp hơn với điều kiện thực tế và khả năng tiếp cận của người dân. Nghị định số 337/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026./.
Phú Toàn

