Hỗ trợ hoàn thiện, nâng cao chất lượng các sản phẩm chủ lực, có thế mạnh của tỉnh, thực hiện có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP, hướng tới xuất khẩu.

Phấn đấu nâng tổng số sản phẩm được công nhận OCOP trên địa bàn tỉnh đạt 246 sản phẩm. Ưu tiên phát triển các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp nhỏ và vừa, phấn đấu có ít nhất 20% chủ thể OCOP là HTX, 10% chủ thể là doanh nghiệp nhỏ và vừa có sản phẩm được công nhận từ 03 sao trở lên; có ít nhất 40% sản phẩm OCOP tham gia vào các kênh bán hàng hiện đại (hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi, sàn giao dịch thương mại điện tử...). Phát triển ít nhất 02 điểm trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh.

Các ngành, đơn vị trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhằm chuyển đổi tư duy cho lãnh đạo các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị phân phối, người tiêu dùng về ý nghĩa, mục đích của Chương trình OCOP. Thực hiện đa dạng các hình thức thông tin tuyên truyền như: tổ chức Hội nghị chuyên đề, cuộc thi, sự kiện xúc tiến thương mại, các bài viết qua website, mạng xã hội, tạp chí, bản tin, chuyên đề, tài liệu (sổ tay, cẩm nang,...); lồng ghép với hoạt động tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới.

Rà soát, kiện toàn Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP và Tổ tư vấn giúp việc Hội đồng các cấp phù hợp với quy định hiện hành. Phát triển các đơn vị tư vấn, tổ tư vấn (gồm các cơ quan quản lý chương trình các cấp, các trường đại học, học viện, trung tâm, các cá nhân, pháp nhân có kinh nghiệm và năng lực tư vấn toàn diện các nội dung thực hiện của chương trình OCOP,...) phát triển sản phẩm OCOP chuyên nghiệp theo hình thức dịch vụ. Khuyến khích thành lập các hiệp hội có cùng ngành hàng, loại sản phẩm OCOP để phát huy lợi thế cạnh tranh về quy mô, chất lượng sản phẩm.

Đẩy mạnh việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với sản phẩm OCOP, nhằm đáp ứng quy định của thị trường trong nước và xuất khẩu. Đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất tạo giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh đối với sản phẩm có tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là các sản phẩm đã được công nhận đạt sao.

Hỗ trợ phát triển sản phẩm mới (sản phẩm từ ý tưởng), sản phẩm dịch vụ (du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái,...) nhằm đa dạng hóa sản phẩm, phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, giá trị văn hóa, lịch sử, làng nghề truyền thống và kinh nghiệm sản xuất của địa phương; thúc đẩy, khuyến khích các phong trào phụ nữ, thanh niên, trí thức trẻ, các chủ thể đã có sản phẩm, tích cực nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, đặc trưng để tham gia Chương trình OCOP.

Đẩy mạnh triển khai các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tập trung nguồn vốn vay đối với ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển; kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể OCOP tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo đúng quy định của pháp luật và các chính sách hỗ trợ chủ thể phát triển sản phẩm[1].

Tổ chức các chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm về cách thức tổ chức, quản lý điều hành, phương pháp triển khai, thực hiện chấm điểm, các mô hình, xây dựng Trung tâm thiết kế sáng tạo và phát triển sản phẩm OCOP,... hiệu quả tại các địa phương.

-Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm về triển khai Chương trình OCOP năm 2025, đề ra phương hướng trong những năm tiếp theo; kịp thời khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong thực hiện Chương trình.

Nguồn vốn thực hiện Chương trình OCOP, bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương của Chương trình OCOP được bố trí trong kế hoạch vốn ngân sách Trung ương của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2025. Vốn tín dụng (bao gồm: vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,...). Vốn của các doanh nghiệp, HTX, hộ sản xuất tự huy động. Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác. Vốn huy động hợp pháp khác.

                                                                      Thanh Tòng

 


[1] Nghị quyết số 15/2021/NQ- HĐND ngày 04/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau quy định nội dung, mức chi thực hiện Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021 - 2030 trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Nghị quyết số 04/2022/NQ-HĐND ngày 13/7/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau quy định mức hỗ trợ đăng ký bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, công nhận giống cây trồng mới trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2030; Kế hoạch số 171/KH-UBND ngày 13/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 10/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới phương thức kinh doanh tiêu thụ nông sản giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030”; các cơ chế chính sách hiện hành về kinh tế tập thể, khuyến nông, khuyến công,...