Đề án xác định chuyển đổi số là động lực then chốt để kết nối giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa với phát triển kinh tế số, xã hội số. Trong đó, người dân và cộng đồng sáng tạo vừa là trung tâm, vừa là đối tượng thụ hưởng. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp bảo tồn di sản hiệu quả hơn mà còn tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa mới, góp phần nâng cao “sức mạnh mềm” quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu này, Đề án đề ra 5 trụ cột chính. Trước hết là phát triển hạ tầng số và cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia, bảo đảm đồng bộ, an toàn và có khả năng chia sẻ. Tiếp đến là hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động văn hóa trên môi trường số. Song song đó là phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu mới. Một nội dung quan trọng khác là đẩy mạnh số hóa di sản và tài nguyên văn hóa. Cuối cùng là phát triển công nghiệp văn hóa số, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đề án cũng đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như: 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; 100% di sản văn hóa được số hóa và chuẩn hóa dữ liệu; 100% cơ quan quản lý văn hóa kết nối, chia sẻ dữ liệu; phần lớn người dân, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, được tiếp cận và tham gia hoạt động văn hóa trên môi trường số.
Bên cạnh đó, nhiều giải pháp đồng bộ sẽ được triển khai như: hoàn thiện pháp luật về dữ liệu và bản quyền số; ưu tiên nguồn lực tài chính; phát triển hạ tầng công nghệ; tăng cường hợp tác quốc tế; đẩy mạnh đào tạo nhân lực và bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Đề án còn chú trọng triển khai chuyển đổi số trong từng lĩnh vực cụ thể như di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thư viện, báo chí – truyền thông… nhằm tạo sự chuyển biến toàn diện trong hoạt động văn hóa.
Với tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới xây dựng hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, hiện đại, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững đất nước và hội nhập quốc tế.
Hải Đăng

