- Thông tư quy định người nộp phí là: Công dân Việt Nam, người nước ngoài khi nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp phí theo quy định tại Thông tư này.
- Tổ chức thu phí: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật là tổ chức thu phí theo quy định tại Thông tư này.
- Về mức thu phí cụ thể như sau:
(1) Mức thu phí cung cấp thông tin lý lịch tư phập thực hiện như sau:
+ Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp: 200.000 (đồng/lần/người).
+ Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp của học sinh từ đủ 16 tuổi trở lên, sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sỹ): 100.000 (đồng/lần/người).
+ Trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp trên 02 Phiếu lý lịch tư pháp trong một lần yêu cầu, thì kể từ Phiếu thứ 3 trở đi tổ chức thu phí được thu thêm 5.000 đồng/Phiếu.
(2) Mức thu phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp đối với trường hợp nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo hình thức trực tuyến (bao gồm cả qua ứng dụng VNeID):
- Kể từ ngày 24 tháng 4 năm 2025 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025, mức thu phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp thực hiện như sau:
+ Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp: 170.000 (đồng/lần/người).
+ Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp của học sinh từ đủ 16 tuổi trở lên, sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sỹ): 80.000 (đồng/lần/người).

Trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp trên 02 Phiếu lý lịch tư pháp trong một lần yêu cầu, thì kể từ Phiếu thứ 3 trở đi tổ chức thu phí được thu thêm 5.000 đồng/Phiếu.
-  Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 trở đi, áp dụng mức thu phí quy định mục (1) nêu trên.
* Trường hợp miễn phí
- Trẻ em theo quy định tại Luật Trẻ em.
- Người cao tuổi theo quy định tại Luật Người cao tuổi.
- Người khuyết tật theo quy định tại Luật Người khuyết tật.
- Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật về chuẩn nghèo.
- Người cư trú tại các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu theo quy định của pháp luật./.


Hứa Nguyên