- Quy định rõ các loại tài sản, thu nhập phải kê khai: Theo Điều 35 (sửa đổi), tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm: Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất; Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
- Các phương thức và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập: Điều 36 luật quy định cụ thể 4 hình thức kê khai: (1) Kê khai lần đầu: Áp dụng đối với người đang hoặc lần đầu giữ vị trí thuộc diện phải kê khai. Người mới được tiếp nhận, tuyển dụng hoặc bố trí vào vị trí phải kê khai phải hoàn thành kê khai chậm nhất 10 ngày kể từ ngày nhận nhiệm vụ; (2) Kê khai bổ sung: Thực hiện khi tài sản, thu nhập trong năm có biến động từ 1 tỷ đồng trở lên. Thời hạn hoàn thành trước ngày 31/12 của năm có biến động; (3) Kê khai hằng năm: Áp dụng đối với: Cán bộ giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên, Giám đốc sở và tương đương; Người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31/12 hằng năm; (4) Kê khai phục vụ công tác cán bộ: Thực hiện khi dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc giới thiệu giữ chức vụ khác; phải hoàn thành chậm nhất 10 ngày trước thời điểm dự kiến.
- Trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập: Điều 44 Luât quy định chặt chẽ quy trình xác minh, gồm các bước: Ra quyết định xác minh và thành lập Tổ xác minh; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin; Yêu cầu người được xác minh giải trình; Tiến hành xác minh; Báo cáo kết quả;Kết luận xác minh; Gửi và công khai kết luận xác minh.
Việc thực hiện nghiêm túc các quy định về kê khai và xác minh tài sản, thu nhập là trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời là giải pháp quan trọng trong xây dựng nền hành chính liêm chính, minh bạch.
Tấn Tài

