Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân nhằm khuyến khích hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, thu hút nguồn lực chất lượng cao và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển bền vững. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 7 của Nghị định, với các chính sách như sau:
Thứ nhất, miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Theo quy định, cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này.
Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp nêu trên là thu nhập có được từ việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết hoặc tổ chức đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Đối với trường hợp cá nhân bán toàn bộ doanh nghiệp do mình làm chủ sở hữu dưới hình thức chuyển nhượng vốn có gắn với bất động sản, thì việc kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân được thực hiện theo quy định đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
Thứ hai, miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia, nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo.
Cá nhân là chuyên gia, nhà khoa học theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các văn bản hướng dẫn thi hành, có thu nhập từ tiền lương, tiền công nhận được từ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thì được miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 02 năm (24 tháng liên tục) và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm (48 tháng liên tục) tiếp theo đối với khoản thu nhập này.
Thời gian miễn, giảm thuế được tính liên tục kể từ tháng phát sinh thu nhập được miễn, giảm thuế; trường hợp phát sinh thu nhập trong tháng thì thời gian tính miễn, giảm thuế được tính đủ tháng.
Trong trường hợp cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn, giảm thuế theo quy định nêu trên, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công khác, thì số thuế thu nhập cá nhân được miễn, giảm được xác định theo nguyên tắc phân bổ tương ứng. Cụ thể:
- Số thuế được miễn trong kỳ tính thuế bằng số thuế thu nhập cá nhân tính trên tổng thu nhập từ tiền lương, tiền công trong kỳ tính thuế, nhân với tỷ lệ giữa thu nhập được miễn thuế theo quy định tại khoản này so với tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công trong kỳ tính thuế.
- Số thuế được giảm trong kỳ tính thuế bằng 50% nhân với số thuế thu nhập cá nhân tính trên tổng thu nhập từ tiền lương, tiền công trong kỳ tính thuế, tiếp tục nhân với tỷ lệ giữa thu nhập được giảm thuế theo quy định tại khoản này so với tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công trong kỳ tính thuế.
Có thể thấy, các quy định về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân tại Nghị định số 20/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa rõ ràng các cơ chế, chính sách đặc biệt của Nghị quyết số 198/2025/QH15, qua đó tạo hành lang pháp lý thuận lợi để khuyến khích đầu tư, thu hút nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Quang Phú

