Theo đó, công tác phối hợp được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ theo dõi, giám sát hoạt động tàu cá đến kiểm soát tàu cá rời, cập cảng, xuất, nhập bến; đối soát dữ liệu, chia sẻ thông tin và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Trong công tác theo dõi, giám sát hoạt động tàu cá, các đơn vị tăng cường phối hợp trên cơ sở ứng dụng các nền tảng công nghệ hiện đại như Hệ thống giám sát hành trình tàu cá (VMS), hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) và cơ sở dữ liệu nghề cá. Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chủ trì trong việc cung cấp đầy đủ thông tin về giấy phép khai thác thủy sản, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật cùng dữ liệu hành trình tàu cá cho Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và các lực lượng liên quan nhằm phục vụ hiệu quả công tác giám sát, quản lý. Đồng thời, việc giám sát được thực hiện thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Đối với công tác kiểm soát tàu cá rời, cập cảng và xuất, nhập bến, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thông qua các Đồn, Trạm Kiểm soát Biên phòng thực hiện kiểm tra chặt chẽ trước khi cho tàu cá xuất bến, bảo đảm tàu có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, thiết bị giám sát hành trình hoạt động bình thường và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Dữ liệu xuất, nhập bến cũng được chia sẻ từ phần mềm quản lý, kiểm soát tàu cá sang hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử eCDT. Sở Nông nghiệp và Môi trường (Ban Quản lý các cảng cá và Văn phòng IUU) thực hiện kiểm tra, xác nhận thông tin tàu cá khi cập, rời cảng; giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ, cấp biên bản cập, rời cảng và cập nhật đầy đủ dữ liệu lên hệ thống eCDT. Hằng tuần hoặc khi có yêu cầu đột xuất, các đơn vị sẽ tiến hành đối chiếu dữ liệu giữa hoạt động xuất, nhập bến với hoạt động cập, rời cảng nhằm bảo đảm tính chính xác, thống nhất, đồng thời kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp không khai báo, khai báo không đúng hoặc vi phạm quy định.

Việc đối soát, xác minh và xử lý các trường hợp chênh lệch dữ liệu. Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thường xuyên đối chiếu dữ liệu giữa hệ thống quản lý cảng cá và hệ thống kiểm soát xuất, nhập bến. Khi phát hiện có sự khác biệt về số liệu tàu cá rời, cập cảng hoặc xuất, nhập bến, các đơn vị sẽ phối hợp xác minh nguyên nhân đối với từng trường hợp, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan. Quá trình đối soát phải được lập biên bản, ghi nhận đầy đủ kết quả và đề xuất các giải pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời, góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước và báo cáo.

Quy chế cũng quy định rõ trách nhiệm trao đổi, chia sẻ thông tin về các tàu cá vi phạm hoặc có nguy cơ vi phạm quy định về chống khai thác IUU. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác thông tin về tàu cá mất kết nối thiết bị giám sát hành trình (VMS), tàu vượt ranh giới trên biển, tàu không đủ điều kiện hoạt động, tàu vi phạm quy định về cập, rời cảng và các hành vi vi phạm khác thông qua các kênh chính thức như hệ thống dữ liệu điện tử, văn bản hành chính, điện thoại và các phương tiện thông tin phù hợp.

Đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, các cơ quan chức năng phải khẩn trương trao đổi, phối hợp xử lý ngay, không để kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các giải pháp chống khai thác IUU của tỉnh. Đồng thời, thiết lập các kênh liên lạc trực tiếp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã, Đồn Biên phòng, Trạm Kiểm ngư và Văn phòng IUU tại cảng cá cũng được thiết lập để tiếp nhận, xử lý nhanh các thông tin về tàu cá mất kết nối VMS hoặc vượt ranh giới trên biển; phối hợp với gia đình chủ tàu tuyên truyền, vận động và cảnh báo ngay khi phát hiện dấu hiệu vi phạm.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp trong công tác kiểm tra, lập biên bản, xác minh và hoàn thiện hồ sơ xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến tàu cá. Cơ quan có thẩm quyền sẽ chủ trì xử lý vụ việc, các đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu và chứng cứ cần thiết. Đối với những trường hợp chưa đủ căn cứ xử phạt, việc kết thúc xử lý phải có đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh rõ ràng, tránh tình trạng xử lý hình thức hoặc bỏ sót vi phạm. Toàn bộ quá trình xử lý phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo đảm kịp thời, nghiêm minh, qua đó nâng cao hiệu quả răn đe, phòng ngừa vi phạm và góp phần thực hiện thành công mục tiêu chống khai thác hải sản bất hợp pháp, hướng tới phát triển ngành thủy sản bền vững.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/6/2026.

Chúc Ly