Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp: Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ, quy trình giám định, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định; Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời; độc lập trong quá trình thực hiện giám định, đưa ra kết luận giám định; chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được trưng cầu, yêu cầu giám định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.

Những nguyên tắc này là nền tảng quan trọng nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của kết luận giám định, phục vụ hiệu quả cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Bên cạnh đó để phòng ngừa tiêu cực, bảo đảm tính minh bạch và liêm chính trong hoạt động giám định, Luật Giám định tư pháp quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm, cụ thể:

- Từ chối tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng; cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, thời gian ban hành kết luận giám định tư pháp.

- Từ chối kết luận giám định tư pháp mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

- Tiết lộ thông tin trong quá trình thực hiện giám định tư pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng.

- Lợi dụng danh nghĩa người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để trục lợi.

- Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác từ đơn vị, tổ chức, cá nhân để làm sai lệch việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp hoặc để làm sai lệch kết quả, kết luận giám định tư pháp.

- Cố ý đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.

- Lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng.

- Lạm dụng việc trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng.

- Can thiệp, cản trở việc thực hiện giám định của người giám định tư pháp.

- Xúi giục, đe dọa, ép buộc người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật./.

Tấn Tài