Tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW; kịp thời phát hiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp, bảo đảm không để khoảng trống pháp lý trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Xây dựng bộ chỉ số theo dõi, giám sát việc thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo.

Tiếp tục rà soát, sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập theo hướng hình thành cơ sở giáo dục có quy mô lớn gắn với cơ cấu lại mạng lưới trường lớp, tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân sự. Hướng dẫn cụ thể về phương thức quản trị, quy mô của cơ sở giáo dục ngay sau khi ổn định việc sắp xếp. Nghiên cứu cơ chế thí điểm mô hình quản trị đối với hệ thống trường công, trường tư trên cùng một địa bàn.

Triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và thực hiện giáo dục bắt buộc trung học cơ sở; tổ chức thực hiện thí điểm Chương trình giáo dục mầm non mới. Triển khai hiệu quả một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất trong cả nước, bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa trước ngày 15 tháng 8 năm 2026. Tăng cường dạy và học ngoại ngữ, dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đẩy nhanh lộ trình tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, tăng cường giáo dục STEM/STEAM, kỹ năng số, giáo dục thể chất và thể thao trường học, nghệ thuật, hướng nghiệp và các hoạt động phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, bảo đảm thực chất, hiệu quả; giảm áp lực thi cử; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trường học; tăng cường phòng, chống gian lận trong các kỳ thi, nhất là trong Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định. Chỉ đạo, hướng dẫn địa phương rà soát, cắt giảm các kỳ thi, cuộc thi không cần thiết; giảm áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

Khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện các tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức về trường chuẩn quốc gia, cơ sở vật chất, trường, lớp học phù hợp với yêu cầu đổi mới, điều kiện thực tế của từng vùng, miền, địa phương. Ưu tiên bố trí nguồn lực để học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận bình đẳng với giáo dục có chất lượng; thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng, miền và giữa các trường.

Hoàn thành sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, đào tạo nghề tại doanh nghiệp; tập trung phát triển các trường cao đẳng đào tạo nhân lực kỹ năng nghề cao, trường chất lượng cao, trường đạt chuẩn quốc tế.

Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng số, văn hóa ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khát vọng cống hiến và ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh, sinh viên; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc trong học sinh, sinh viên. Nâng cao hiệu quả công tác tư vấn tâm lý, sức khỏe học đường, thể thao trường học. Xây dựng văn hóa học đường theo hướng toàn diện, thiết thực trên nền tảng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, kỷ cương, nhân văn; phòng, chống bạo lực học đường, tệ nạn xã hội và các nguy cơ trên môi trường mạng; chú trọng trang bị cho học sinh năng lực tự bảo vệ bản thân, khả năng nhận diện và chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Tập trung chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thu Hồng