Theo Điều 13 Luật Dân số, mỗi cá nhân, cặp vợ chồng có quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh trên cơ sở bình đẳng, phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và khả năng nuôi dạy con. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết, bình đẳng giới và trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình trong thực hiện chính sách dân số.
Bên cạnh quyền, Luật cũng quy định rõ nghĩa vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe sinh sản. Cá nhân, cặp vợ chồng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và các biện pháp cần thiết khác nhằm bảo đảm sức khỏe sinh sản, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Nhằm ứng phó với những biến động về mức sinh, Điều 14 Luật Dân số quy định các biện pháp để duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững cụ thể:
- Trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 07 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con;
- Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;
- Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;
- Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi;
- Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 02 con đẻ trở lên;
Các quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân, đồng thời chủ động điều tiết mức sinh phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước. Việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung này sẽ góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội trong thực hiện công tác dân số trong tình hình mới.
Hứa Nguyên

