1. Thiết lập hành lang pháp lý vững chắc về bảo mật thông tin: Lần đầu tiên Luật Hòa giải ở cơ sở bổ sung riêng 01 điều (Điều 5) quy định cụ thể và toàn diện về bảo mật thông tin trong công tác hòa giải. Quy định mới góp phần bảo đảm bí mật đối với thông tin mà hòa giải viên và những người có liên quan biết được trong quá trình hòa giải, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, sự riêng tư của các bên, đồng thời tạo cơ sở để các bên yên tâm, tin tưởng khi tham gia hòa giải ở cơ sở.
2. Nâng cao trách nhiệm bảo vệ tính mạng và sức khỏe: Lần đầu tiên Luật bổ sung nghĩa vụ cho hòa giải viên và trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và những người khác. Quy định này thể hiện cách tiếp cận chủ động hơn trong công tác hòa giải: không chỉ giải quyết mâu thuẫn mà còn chú trọng nhận diện, phòng ngừa nguy cơ bạo lực và bảo đảm an toàn cho các bên, hòa giải viên và những người tham gia hòa giải ở cơ sở.
3. Mở rộng nguồn lực, siết chặt chuẩn mực hòa giải viên: Lần đầu tiên Luật quy định đối với hòa giải viên phải là người “cư trú tại cơ sở” (bao gồm cả người thường trú và tạm trú) thay cho quy định trước đây là người “thường trú tại cơ sở”; đồng thời quy định chặt chẽ các trường hợp không đủ tiêu chuẩn như đang trong thời hạn xử lý kỷ luật thi hành quyết định xử lý kỷ luật, áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án hình sự hoặc chưa xóa án tích. Qua đó, góp phần bảo đảm hòa giải viên là những người có uy tín, trách nhiệm và đáp ứng yêu cầu của công tác hòa giải tại cộng đồng.
4. Đột phá phương thức bầu chọn linh hoạt: Lần đầu tiên việc bầu hòa giải viên được phép kết hợp nhiều hình thức thay vì chỉ một hình thức đơn lẻ. Quy định này nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức bầu hòa giải viên trên thực tế, đồng thời tạo sự chủ động, linh hoạt cho địa phương, nhất là trong bối cảnh quy mô thôn, tổ dân phố có nhiều thay đổi sau khi thực hiện sắp xếp. Qua đó, việc lựa chọn hòa giải viên sẽ phù hợp hơn với đặc điểm dân cư và điều kiện thực tế của từng địa bàn.
5. Gỡ bỏ rào cản ngôn ngữ với cơ chế hỗ trợ phiên dịch: Lần đầu tiên Luật ghi nhận quyền của các bên trong việc lựa chọn, đề xuất, đề nghị thay đổi người phiên dịch, gắn liền với nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí phiên dịch. Quy định này tạo điều kiện để các bên thực sự hiểu nội dung trao đổi, quyền và lợi ích của mình trong quá trình hòa giải, nhất là đối với trường hợp các bên không cùng sử dụng tiếng Việt, người sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc ngôn ngữ ký hiệu.
6. Cơ chế huy động người được mời tham gia nâng cao chất lượng hòa giải: Lần đầu tiên Luật quy định rõ cơ chế huy động, phát huy vai trò của những người được mời tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc tham gia trực tiếp vào quá trình hòa giải. Đây có thể là những người có kiến thức, kinh nghiệm, hiểu biết về pháp luật, phong tục, tập quán hoặc có uy tín trong cộng đồng, tùy thuộc vào tính chất của từng vụ việc. Quy định này góp phần huy động thêm nguồn lực xã hội, nhất là trong những vụ việc phức tạp, qua đó hỗ trợ hòa giải viên phân tích, thuyết phục và giúp các bên tìm được phương án giải quyết hợp lý, bảo đảm việc hòa giải đúng pháp luật, phù hợp với phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng.
7. Cơ chế chỉ định hòa giải viên khắc phục khó khăn từ thực tiễn: Lần đầu tiên Luật bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên linh hoạt nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong thực tiễn bầu hòa giải viên tại địa phương. Quy định này không thay thế phương thức bầu hòa giải viên mà là cơ chế bổ trợ, được áp dụng trong những trường hợp nhất định, qua đó khắc phục tình trạng tổ hòa giải không đủ số lượng, thành phần hoặc không thể tổ chức bầu theo quy định. Việc bổ sung cơ chế chỉ định góp phần bảo đảm tổ hòa giải được kiện toàn, hoạt động ổn định, liên tục và đáp ứng kịp thời nhu cầu hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng.
8. Tiếp thêm động lực, nâng cao trách nhiệm của nhà nước “bảo đảm kinh phí” cho công tác này nhằm khơi thông điểm nghẽn: Một điểm mới quan trọng là lần đầu tiên Luật quy định “Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở”. Quy định này thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở, đồng thời góp phần tháo gỡ một trong những khó khăn được phản ánh nhiều trong thực tiễn thi hành Luật năm 2013. Cùng với việc xác định rõ trách nhiệm bảo đảm kinh phí, Luật tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, qua đó tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
9. Khuyến khích chuyển đổi số, bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn: Lần đầu tiên yêu cầu chuyển đổi số được lồng ghép toàn diện trong Luật Hòa giải ở cơ sở, tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ trong quản lý và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Theo đó, Luật cho phép ứng dụng công nghệ để thực hiện bầu hòa giải viên bằng hình thức trực tuyến và tiến hành hòa giải trực tuyến, bên cạnh các hình thức thực hiện trực tiếp, phù hợp với điều kiện thực tế và sự lựa chọn của các bên. Quy định này mở ra phương thức tổ chức hoạt động hòa giải linh hoạt hơn, nhất là trong điều kiện địa bàn rộng, dân cư phân tán hoặc các bên gặp khó khăn trong việc trực tiếp tham gia. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ còn góp phần đổi mới phương thức quản lý, lập và lưu trữ thông tin, theo dõi, thống kê hoạt động hòa giải, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và khả năng tiếp cận hoạt động hòa giải của người dân. Việc chuyển đổi số trong hòa giải ở cơ sở được đặt trong sự phù hợp với tính chất tự nguyện, linh hoạt của hòa giải và điều kiện thực tế của từng địa phương, qua đó vừa tận dụng được lợi ích của công nghệ, vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hòa giải.
10. Thể chế hóa giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án: Luật thể chế hóa sâu sắc chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án bằng việc quy định các bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quy định này góp phần bảo đảm giá trị pháp lý của hòa giải thành trên cơ sở đồng thuận của các bên.
Với 10 điểm mới nêu trên, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 không chỉ tập trung khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật năm 2013 mà còn mở rộng và hoàn thiện cách tiếp cận đối với công tác hòa giải, từ bảo mật thông tin, bảo đảm an toàn cho các bên, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên đến huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí, chuyển đổi số và tăng cường kết nối với các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án.
Việc Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 là dấu mốc quan trọng trong hoàn thiện thể chế về hòa giải ở cơ sở, tạo cơ sở pháp lý để hoạt động này tiếp tục phát huy vai trò trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp từ sớm, từ cơ sở, góp phần củng cố đoàn kết cộng đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
Nguyễn Kim Thoa
Nguồn: Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

