Nghị quyết số 193/2025/QH15 được ban hành với 04 chương, 17 điều. Nghị quyết này xác định được những vấn đề có thể triển khai sớm, những vấn đề thực tiễn đã đặt ra, cần giải quyết ngay, không chờ đến khi Quốc hội thông qua các Luật này hoặc sửa các Luật có liên quan. Với một số nội dung cụ thể sau:
(1) Tổ chức khoa học, công nghệ (KH&CN) công lập, nhà khoa học thuộc các tổ chức công lập được phép thành lập, điều hành doanh nghiệp hình thành dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) và phát triển công nghệ (PTCN) của chính mình.
(2) Chấp nhận rủi ro trong NCKH và PTCN. Có thể nói đây là một trong những điểm nghẽn kéo dài. Gốc của vấn đề chính là các cơ quan quản lý nhà nước muốn tránh rủi ro, nên đã đề ra nhiều thủ tục phức tạp, dồn rất nhiều trách nhiệm lên các tổ chức KH&CN, và kết quả là các tổ chức KH&CN, nhà khoa học không dám nhận hoặc đề xuất những vấn đề nghiên cứu lớn, vượt ra ngoài kiến thức hiện có vốn có độ rủi ro cao, đặc biệt là các đề tài nghiên cứu cơ bản. Trái ngược với thực tế như trên, công việc NCKH và PTCN lại có bản chất rủi ro, là một loại đầu tư có tính mạo hiểm. Theo đó, Nghị quyết đã có điều khoản miễn trách nhiệm dân sự cho tổ chức KH&CN, cá nhân nhà khoa học khi gây ra thiệt hại cho Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN.
(3) Việc cấp kinh phí NCKH và PTCN theo cơ chế quỹ sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho cả các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động KH&CN và cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể như: tăng tính chủ động và linh hoạt, không bị ràng buộc chặt chẽ bởi quy trình NSNN; có cơ chế huy động và đa dạng hóa nguồn vốn; tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng NSNN; thúc đẩy việc triển khai các chương trình, nhiệm vụ KH&CN có tính dài hạn.
(4) Cơ chế khoán chi trong thực hiện NCKH và PTCN được áp dụng đối với hầu hết các nội dung chi trong một nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN. Nhà nước sẽ quản lý việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN thông qua đánh giá các giai đoạn trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đó tiếp tục cấp kinh phí.
(5) Nghị quyết cho phép giao quyền sở hữu, quản lý, sử dụng tài sản hình thành từ việc triển khai nhiệm vụ KH&CN một cách tự động, không phải thực hiện thủ tục hành chính ngoại trừ một số trường hợp cụ thể. Các tổ chức KH&CN được phép sở hữu, quản lý, sử dụng tài sản hình thành theo quy định của pháp luật tương ứng với loại hình tổ chức tương ứng.
(6) Về vấn đề thương mại hóa kết quả NCKH & PTCN, đây cũng là điểm nghẽn lớn kéo dài. Trên nguyên tắc, kết quả nghiên cứu phải được thương mại hoá thì mới góp phần cho phát triển KT-XH. Theo đó, Nghị quyết cho phép thí điểm việc cho phép tổ chức KH&CN được sở hữu và có quyền tự quyết đối với kết quả nghiên cứu do mình tạo ra, với tài sản hình thành từ thực hiện nhiệm vụ KH&CN, để chủ động trong việc thương mại hoá ngay sau khi kết thúc nhiệm vụ. Có thể xem rằng đây là chính sách rất mạnh mẽ để thương mại hoá kết quả hình thành từ NCKH & PTCN, kể các các kết quả có được trong những năm trước, qua đó tạo ra ích nước lợi nhà. Một khi kết quả nghiên cứu được thương mại hoá thì Nhà nước sẽ thu được thông qua thuế, tạo ra công ăn việc làm, đất nước có trình độ KH&CN cao hơn. Đây là cách thu hồi gián tiếp của Nhà nước với các khoản chi KH&CN.
(7) Nghị quyết cũng thí điểm việc cho phép doanh nghiệp chi cho KH&CN ngoài Quỹ KH&CN và được tính là chi phí hợp lệ, được khấu trừ khi thuế thu nhập doanh nghiệp, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp có thể chi cho KH&CN nhiều hơn 10% lợi nhuận trước thuế và cũng không bị ràng buộc bởi các quy định chặt chẽ của Quỹ. Lâu nay, việc giới hạn chi KH&CN được hưởng ưu đãi thuế chỉ trong phạm vi Quỹ đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chi cho hoạt động KH&CN ít hơn nhiều các nước trong khu vực. Do đó, chính sách khấu trừ thuế cho các khoản chi KH&CN được xem như việc Nhà nước chung tay với doanh nghiệp để đầu tư cho KH&CN, để khuyến khích DN chi cho KH&CN.
(8) Về hoạt động CĐS quốc gia, cần nhất là một chữ “nhanh”, nhất là cho 02 năm 2025-2026 để tạo nhanh các nền tảng và động lực cho CĐS quốc gia trong những năm sau. Theo đó, Nghị quyết cho phép sử dụng ngân sách trung ương triển khai các nền tảng số dùng chung và chỉ định thầu các dự án chuyển đổi số.
(9) Về hạ tầng viễn thông thì lúc này cũng cần nhất là chữ “nhanh”, là đầu tư trước, do đó Nghị quyết cho phép hỗ trợ 15% chi phí bình quân thiết bị BTS 5G đối với các doanh nghiệp phát triển tối thiểu 20.000 BTS 5G trong năm 2025 (từ ngày 19/2/2025) và cho phép chỉ định thầu hoặc áp dụng thông lệ quốc tế trong việc lựa chọn nhà thầu triển khai tuyến cáp quang biển quốc tế.
(10) Về dịch vụ viễn thông vệ tinh tầm thấp, đây là công nghệ mới, phủ sóng băng rộng cho vùng sâu, vùng đồi núi rất hiệu quả, để thu hút đầu tư nước ngoài, Nghị quyết cho phép thí điểm có kiểm soát dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp với sở hữu nước ngoài tới 100%, nhưng phải đảm bảo quốc phòng - an ninh, chủ quyền quốc gia.
(11) Về công nghiệp bán dẫn, đây là ngành công nghiệp chiến lược. Việt Nam đặt mục tiêu phát triển đầy đủ tất cả các công đoạn của ngành công nghiệp này, trong đó thì khó nhất là nhà máy sản xuất. Nhất là nhà máy sản xuất vi mạch đầu tiên, rất quan trọng cho nghiên cứu, chế thử các vi mạch được thiết kế ở Việt Nam, rất quan trọng cho việc sản xuất các vi mạch chuyên dùng của Việt 57 Nam, cho đào tạo nhân lực, nhất là cho lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Để thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư và vận hành, Nghị quyết cho phép cơ chế hỗ trợ 30% tổng mức đầu tư dự án trực tiếp từ ngân sách trung ương trong trường hợp nhà máy nghiệm thu đưa vào sản xuất trước ngày 31 tháng 12 năm 2030. Tổng mức hỗ trợ không vượt quá 10.000 tỷ đồng.
* Theo tài liệu giới thiệu Nghị quyết của Bộ Khoa học và Công nghệ.

