Thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, những năm qua, Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau đã đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân ở cơ sở. (Ảnh tư liệu)

So với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật năm 2026 có nhiều đổi mới quan trọng, thể hiện yêu cầu đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) từ chủ yếu cung cấp, truyền đạt kiến thức pháp luật sang lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; gắn PBGDPL với xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, truyền thông chính sách, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. 

Mở rộng phạm vi điều chỉnh, đưa truyền thông chính sách vào Luật PBGDPL: Một trong những điểm mới nổi bật nhất là truyền thông chính sách được chính thức đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật.

Luật năm 2012 chủ yếu điều chỉnh quyền được thông tin về pháp luật, trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức PBGDPL; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL. Luật năm 2026 mở rộng phạm vi điều chỉnh sang cả truyền thông chính sách và dành riêng Mục 4 Chương II để quy định về hoạt động này. Theo Điều 21 Luật năm 2026, truyền thông chính sách là hoạt động cung cấp thông tin và tương tác đa chiều về chính sách, dự thảo văn bản trong quá trình đề xuất và soạn thảo. Hoạt động này nhằm giúp người dân, doanh nghiệp và xã hội hiểu rõ nội dung, tác động dự kiến của chính sách; tham gia góp ý; đồng thời giúp cơ quan xây dựng chính sách tiếp nhận phản hồi để hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản, tạo sự đồng thuận xã hội và chuẩn bị tốt hơn cho việc tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành.

Đáng chú ý, cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm thực hiện truyền thông chính sách; tiếp nhận, tổng hợp, giải trình đầy đủ, công khai, kịp thời các ý kiến góp ý, phản hồi. Đây là bước tiến quan trọng trong việc gắn kết xây dựng pháp luật – truyền thông chính sách – PBGDPL – tổ chức thi hành pháp luật.

Quy định đầy đủ hơn quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân: Luật năm 2012 quy định công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện thực hiện quyền này.

Luật năm 2026 đã mở rộng và cụ thể hóa đáng kể. Theo Điều 2, công dân có quyền tiếp cận pháp luật; thụ hưởng, tham gia các hoạt động PBGDPL, truyền thông chính sách; được hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật.

Đồng thời, Luật xác định rõ công dân có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có trách nhiệm chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. Như vậy, người dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin pháp luật mà được xác định rõ hơn là chủ thể tham gia vào quá trình PBGDPL và xây dựng chính sách, pháp luật.

Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm: Luật năm 2026 bổ sung nguyên tắc rất quan trọng: nội dung, hình thức PBGDPL phải phù hợp với đặc điểm, nhu cầu, văn hóa, ngôn ngữ và địa bàn cư trú; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Bên cạnh đó, Luật yêu cầu kết hợp hài hòa giữa hình thức truyền thống và hiện đại; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; bảo đảm hoạt động PBGDPL kịp thời, thường xuyên, liên tục, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, công khai và minh bạch.

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trở thành phương thức PBGDPL được luật hóa: Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật năm 2026.

Luật năm 2012 đã ghi nhận internet, trang thông tin điện tử là hình thức PBGDPL. Tuy nhiên, Luật năm 2026 tiến thêm một bước khi quy định cụ thể việc PBGDPL thông qua Cổng Pháp luật quốc gia, nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Theo Điều 13, Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ, quản lý dữ liệu pháp luật thuộc phạm vi quản lý; đồng thời thực hiện PBGDPL thông qua nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Đặc biệt, khi sử dụng trí tuệ nhân tạo trong PBGDPL phải bảo đảm dữ liệu dựa trên nguồn thông tin chính thức; kiểm soát tính chính xác; kiểm chứng thông tin trước khi cung cấp; thực hiện cảnh báo, đính chính khi cần thiết và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát triển, vận hành trí tuệ nhân tạo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu vào và thông tin do hệ thống của mình cung cấp.

Quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi số công tác PBGDPL, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng, độ tin cậy của thông tin pháp luật trên môi trường số.

Bổ sung hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến công nghệ và trí tuệ nhân tạo: Điều 9 Luật năm 2026 quy định cụ thể hơn các hành vi bị nghiêm cấm. Luật nghiêm cấm việc sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, nội dung chính sách. Cấm cung cấp, trích dẫn, chỉnh sửa, sử dụng, truyền đạt nội dung pháp luật, nội dung chính sách nhằm làm sai ý nghĩa, nội dung; lợi dụng hoạt động PBGDPL, truyền thông chính sách để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; cản trở tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu pháp luật và lợi dụng chính sách xã hội hóa, ưu tiên, hỗ trợ của Nhà nước để trục lợi.

Đây là những quy định có ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện thông tin pháp luật ngày càng được sản xuất, chia sẻ nhanh chóng trên mạng xã hội và bằng các công cụ trí tuệ nhân tạo.

Kiện toàn Hội đồng phối hợp PBGDPL phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp: Luật năm 2012 quy định Hội đồng phối hợp PBGDPL được thành lập ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Luật năm 2026 điều chỉnh mô hình này, quy định Hội đồng được thành lập ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời Hội đồng có thể được thành lập ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương. Chức năng của Hội đồng cũng được mở rộng, không chỉ tư vấn về PBGDPL và huy động nguồn lực mà còn tư vấn về truyền thông chính sách, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.

Quy định này phù hợp với tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời tăng vai trò phối hợp PBGDPL ngay tại cấp xã – nơi trực tiếp tiếp xúc và giải quyết phần lớn các vấn đề pháp lý gắn với người dân.

Mở rộng lực lượng báo cáo viên pháp luật, đổi mới cơ chế lựa chọn

Luật năm 2012 quy định báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận; báo cáo viên pháp luật ở địa phương gồm cấp tỉnh và cấp huyện.

Luật năm 2026 mở rộng lực lượng báo cáo viên pháp luật, ngoài cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân còn có luật sư, luật gia đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định. Ở địa phương, hệ thống báo cáo viên pháp luật được tổ chức ở cấp tỉnh và cấp xã. Cơ chế “quyết định công nhận” trước đây được chuyển sang lựa chọn, công bố danh sách; đối với một số tổ chức nghề nghiệp về pháp luật, việc lựa chọn phải trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn.

Đối với tuyên truyền viên pháp luật, Luật mới xác định cụ thể đây là người cư trú hoặc làm việc trên địa bàn cấp xã, có uy tín, kiến thức, am hiểu pháp luật và khả năng truyền đạt, được Chủ tịch UBND cấp xã lựa chọn, công bố danh sách trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân.

Những thay đổi này góp phần mở rộng nguồn nhân lực xã hội có kiến thức, kỹ năng pháp luật tham gia PBGDPL, đồng thời phù hợp với mô hình chính quyền địa phương mới.

Trao quyền cho HĐND cấp tỉnh ban hành chính sách xã hội hóa PBGDPL phù hợp với địa phương: Luật năm 2012 đã quy định chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL. Tuy nhiên, Luật năm 2026 bổ sung thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, được quyết định chính sách khác để khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ công tác PBGDPL tại địa phương.

Quy định này tạo cơ sở để từng địa phương chủ động có cơ chế huy động nguồn lực xã hội phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần đa dạng hóa chủ thể, nguồn lực và phương thức PBGDPL.

Đánh giá PBGDPL theo kết quả tiếp cận, hiểu biết, tuân thủ pháp luật và sự hài lòng: Một điểm mới rất đáng chú ý là Luật năm 2026 dành riêng Điều 37 về đánh giá hoạt động PBGDPL. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về PBGDPL tổ chức đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo định kỳ hoặc đột xuất. Tiêu chí đánh giá phải dựa trên mức độ tiếp cận pháp luật, hiểu biết và tuân thủ pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội dung phù hợp khác.

So với Luật năm 2012, đây là bước chuyển quan trọng trong cách đánh giá hiệu quả PBGDPL. Kết quả công tác không chỉ được nhìn nhận qua số lượng hội nghị, tài liệu, tin bài hay lượt người tham dự mà ngày càng hướng tới hiệu quả thực chất đối với người được thụ hưởng: người dân có tiếp cận được pháp luật không, có hiểu và vận dụng được pháp luật không, mức độ tuân thủ và sự hài lòng như thế nào.

Những quy định mới nêu trên tạo cơ sở pháp lý để công tác PBGDPL tiếp tục đổi mới theo hướng chủ động, hiện đại, đa chiều, có trọng tâm, trọng điểm, gắn chặt với xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, qua đó đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và từng bước hình thành văn hóa thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong xã hội.

Hứa Nguyên