Theo Điều 16 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) năm 2025, các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự là những hành vi không được thực hiện trong quá trình tổ chức, tham gia thi hành án nhằm bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật và hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Trọng tâm của quy định này là nghiêm cấm việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, làm sai lệch việc thi hành án; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; chống đối, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án; cung cấp thông tin sai sự thật; hủy hoại, tẩu tán tài sản hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thi hành án.

Việc quy định cụ thể, chi tiết các hành vi bị nghiêm cấm không chỉ mang ý nghĩa phòng ngừa mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý trách nhiệm đối với các chủ thể có hành vi vi phạm trong thi hành án dân sự.

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thi hành án

Khoản 1 Điều 16 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) năm 2025 quy định một cách toàn diện các hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thi hành án. Cụ thể:

Thứ nhất, nghiêm cấm hành vi không chấp hành bản án, quyết định; không chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; chống đối, trì hoãn hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình tổ chức thi hành án. Quy định này nhằm bảo đảm tính bắt buộc thi hành của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, nghiêm cấm các hành vi mang tính chất xâm phạm tài sản và tham nhũng trong thi hành án, bao gồm: nhận hối lộ; chiếm đoạt, sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án; phá hủy niêm phong; tiêu dùng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại, tẩu tán vật chứng, tài sản tạm giữ; thay đổi hiện trạng, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thi hành án.

Thứ ba, nghiêm cấm việc cố ý không ra quyết định về thi hành án hoặc ra quyết định trái pháp luật; áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật. Đây là nhóm hành vi xâm phạm trực tiếp đến trình tự, thủ tục thi hành án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Thứ tư, pháp luật nghiêm cấm việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, can thiệp trái pháp luật việc giải quyết thi hành án; lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án; cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thi hành trái pháp luật hoặc trì hoãn việc thi hành án.

Thứ năm, nghiêm cấm các hành vi giả mạo, làm sai lệch văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu điện tử để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian tổ chức thi hành án; làm lộ thông tin hoặc lợi dụng, lạm dụng thông tin về tài khoản, thu nhập, tài sản của người phải thi hành án để sử dụng trái phép hoặc làm ảnh hưởng đến việc thi hành án.

Thứ sáu, nghiêm cấm các hành vi xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm an ninh, an toàn, trật tự đối với trụ sở làm việc của cơ quan thi hành án và địa điểm diễn ra các hoạt động thi hành án.

Thứ bảy, nghiêm cấm việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh, lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm kích động, vu cáo, vu khống, xúc phạm uy tín, sự tôn nghiêm, danh dự, nhân phẩm của cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án.

Thứ tám, nghiêm cấm hành vi thiếu trách nhiệm, cố ý chậm trễ trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án.

Thứ chín, nghiêm cấm việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản của Chấp hành viên, Thừa hành viên, những người khác tham gia vào hoạt động thi hành án hoặc người thân của họ.

Thứ mười, nghiêm cấm hành vi trốn tránh việc nộp phí thi hành án hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với Chấp hành viên

Khoản 2 Điều 16 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) năm 2025 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu về tính liêm chính, khách quan của Chấp hành viên - chủ thể giữ vai trò trung tâm trong hoạt động thi hành án dân sự. Theo đó, Chấp hành viên bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều 16 của Luật; thực hiện những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm; vi phạm chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên.

Đặc biệt, Luật nghiêm cấm Chấp hành viên trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và của những người thân thích theo quy định. Đây là quy định quan trọng nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, bảo đảm tính vô tư, khách quan trong hoạt động thi hành án.

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với Thừa hành viên

Đối với Thừa hành viên, khoản 3 Điều 16 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) năm 2025 quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm: các hành vi quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều 16; vi phạm chuẩn mực đạo đức hành nghề Thừa hành viên; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin được cung cấp để đe dọa, nhũng nhiễu hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

Ngoài ra, Thừa hành viên cũng không được trực tiếp tổ chức việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và người thân thích theo quy định; không được đồng thời hành nghề tại hai văn phòng thi hành án dân sự trở lên; không được đồng thời là luật sư, công chứng viên, quản tài viên, đấu giá viên, giám định viên, thẩm định viên về giá. Những quy định này thể hiện rõ yêu cầu tách bạch chức năng, phòng ngừa lợi ích chồng chéo trong hoạt động hành nghề.

Có thể thấy, Điều 16 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) năm 2025 đã thiết lập một hệ thống các hành vi bị nghiêm cấm tương đối toàn diện, bao quát cả đối tượng là cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung và các chủ thể đặc thù như Chấp hành viên, Thừa hành viên. Việc quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm không chỉ góp phần nâng cao kỷ cương pháp luật trong thi hành án dân sự mà còn là cơ sở quan trọng để phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm.

Từ góc độ thực tiễn, việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án dân sự là hết sức cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức pháp lý của các chủ thể liên quan, góp phần bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện công khai, minh bạch, đúng pháp luật và hiệu quả.

Phú Toàn