Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 78/2025/NĐ-CP quy định “Việc truyền thông được thực hiện từ thời điểm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông qua hoặc ban hành” truyền thông dự thảo chính sách và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân và doanh nghiệp. Đây không chỉ là hoạt động phổ biến đơn thuần mà là quá trình tương tác hai chiều giữa chủ thể ban hành và đối tượng chịu tác động.
Việc thực hiện truyền thông từ sớm từ xa mang lại những giá trị cốt lõi:
Thứ nhất: Tạo sự đồng thuận xã hội, giúp người dân hiểu rõ mục tiêu, sự cần thiết của chính sách, từ đó giảm thiểu sự phản kháng hoặc hiểu lầm khi văn bản chính thức có hiệu lực.
Thứ hai: Nâng cao chất lượng văn bản, thông qua phản hồi từ dư luận, cơ quan soạn thảo có thêm "tư liệu, nguồn thông tin" thực tế để điều chỉnh các quy định phù hợp với cuộc sống, tránh tình trạng văn bản khi ban hành xa rời thực tiễn.
Thứ ba: Phát huy dân chủ, cụ thể hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", tạo cơ chế để người dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.
Như vậy, truyền thông dự thảo không chỉ là hoạt động hỗ trợ mà thực chất là một công cụ quản trị chính sách hiện đại.

(Sở Tư pháp - Cơ quan Thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL trong tháng 03/2026 đã tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ truyền thông dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật)
Mặc dù đã có cơ sở pháp lý rõ ràng, ý nghĩa thiết thực nhưng thực tiễn triển khai cho thấy công tác này vẫn còn nhiều bất cập: Uỷ ban nhân dân tỉnh và Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh đã ban hành nhiều văn bản như kế hoạch, công văn hướng dẫn, các lớp tập huấn nghiệp vụ nhằm đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách. Các cơ quan, đơn vị bước đầu nhận thức được vai trò của truyền thông dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, ở một số đơn vị trực tiếp soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thì hoạt động này chưa được triển khai một cách bài bản.
- Nhiều đơn vị cho rằng việc đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử là đã thực hiện truyền thông, nhưng phải nhìn từ thực tế việc đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử vốn ít người dân truy cập xem và góp ý.
- Nội dung truyền thông nghèo nàn, chủ yếu là sao chép nguyên văn các điều khoản khô khan mà thiếu các bài viết phân tích, đồ họa hóa (infographic) hoặc video giải thích dễ hiểu.
Theo Nghị quyết số 10/NQ-HĐND ngày 13/2/2026 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh có đến 73 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế, tuy nhiên đến nay số lượng dự thảo văn bản được truyền thông bài bản chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn so với tổng số văn bản được cho chủ trương.
Những bất cập trên xuất phát từ các nguyên nhân mang tính hệ thống, liên quan đến thể chế, nhận thức và điều kiện bảo đảm thực hiện:
Trước hết, thiếu ràng buộc pháp lý trong quy trình xây dựng văn bản là nguyên nhân cốt lõi. Dù Nghị định 78/2025/NĐ-CP đã đặt ra yêu cầu về truyền thông, nhưng chưa quy định thành bước bắt buộc. Hồ sơ xây dựng, thẩm định, trình ban hành văn bản chưa yêu cầu phải có kế hoạch hoặc báo cáo truyền thông, nên cơ quan soạn thảo không bị ràng buộc trách nhiệm, dẫn đến thực hiện mang tính hình thức.
Thứ hai, nhận thức của cơ quan soạn thảo chưa đầy đủ. Một số nơi vẫn coi truyền thông là việc của báo chí hoặc bộ phận tuyên truyền, chưa xem đây là trách nhiệm trực tiếp trong quá trình xây dựng văn bản, làm giảm hiệu quả tiếp nhận ý kiến xã hội.
Thứ ba, thiếu nguồn lực và kỹ năng. Cán bộ xây dựng pháp luật chủ yếu mạnh về chuyên môn pháp lý nhưng hạn chế về kỹ năng truyền thông.
Thứ tư: thiếu cơ chế kiểm tra, đánh giá.chưa có quy định gắn kết quả truyền thông với việc đánh giá chất lượng hồ sơ xây dựng văn bản.
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Hoàn thiện thể chế, đưa truyền thông thành bước bắt buộc: Nghiên cứu sửa đổi quy định về quy chế phối hợp trong xây dựng văn bản QPPL địa phương theo hướng: Bổ sung bắt buộc kế hoạch truyền thông trong hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản; Yêu cầu báo cáo kết quả truyền thông trong hồ sơ thẩm định, trình ban hành. Xác định truyền thông là một tiêu chí đánh giá chất lượng chính sách.
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo: Gắn trách nhiệm truyền thông trực tiếp với cơ quan chủ trì; Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về hiệu quả truyền thông dự thảo.
Đổi mới phương thức truyền thông: Kết hợp đa kênh: báo chí, mạng xã hội, nền tảng số; Sử dụng các hình thức trực quan: infographic, video, hỏi – đáp; Tăng tương tác hai chiều, không chỉ “đưa thông tin” mà còn “thu nhận phản hồi”.
Bố trí nguồn lực và đào tạo kỹ năng: Bảo đảm kinh phí riêng cho truyền thông chính sách; Tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật.
Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông; Lồng ghép nội dung này vào công tác kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật.
Phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân liên quan: Huy động sự tham gia của báo chí, chuyên gia, hiệp hội; Khuyến khích phản biện xã hội đối với dự thảo chính sách.
Truyền thông dự thảo chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi trở thành khâu bắt buộc, có trách nhiệm, được đo lường trong quy trình xây dựng văn bản, đồng thời được cơ quan soạn thảo nhận thức là nhiệm vụ trực tiếp của mình qua đó bảo đảm các văn bản quy phạm pháp luật có sự đồng thuận và đi vào cuộc sống ngay từ đầu./.
Hứa Nguyên

