Đáng chú ý, Điều 4 của Nghị định quy định nhiều nội dung chuyển tiếp liên quan đến nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhằm bảo đảm việc áp dụng chính sách mới được thống nhất, thuận lợi.

Theo đó, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 1 tỷ đồng trở xuống và đã kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP thì số tiền thuế đã nộp sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 12 của Nghị định này, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.

Đối với doanh nghiệp, trường hợp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý I năm 2026 nhưng đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách theo Điều 2 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP thì không phải tiếp tục tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ở các quý còn lại trong năm. Đồng thời, số thuế đã nộp thừa được thực hiện bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định cũng quy định rõ trường hợp kỳ tính thuế năm 2025 có thời điểm kết thúc sau ngày 01/01/2026 và doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoảng thời gian từ ngày 01/01/2026 đến hết kỳ tính thuế năm 2025.

Việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn được thực hiện trên cơ sở lấy tổng số thuế phải nộp của năm 2025 chia cho 12 tháng hoặc số tháng thực tế hoạt động của doanh nghiệp trong trường hợp thành lập mới năm 2025, sau đó nhân với số tháng của kỳ tính thuế thuộc năm dương lịch 2026.

Từ kỳ tính thuế năm 2026, doanh nghiệp thực hiện chính sách thuế theo quy định mới tại Điều 2 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.

Việc ban hành các quy định chuyển tiếp nêu trên được đánh giá là góp phần tháo gỡ khó khăn cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi, áp dụng chính sách thuế mới; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định pháp luật.

Quang Phú