Theo Điều 8 Nghị định số 160/2026/NĐ-CP, dữ liệu về tình hình, kết quả thi hành án hình sự trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự bao gồm: số liệu về người, pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp; tình hình, kết quả thi hành án hình sự đối với người, pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp; tình hình về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ công tác thi hành án hình sự.

Dữ liệu cơ bản về người chấp hành án, người bị áp dụng biện pháp tư pháp trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự bao gồm: bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án hình sự; lý lịch người chấp hành án, người bị áp dụng biện pháp tư pháp; số định danh cá nhân đối với công dân Việt Nam, mã số định danh hoặc số hộ chiếu đối với người nước ngoài; tóm tắt quá trình phạm tội; nghĩa vụ dân sự, hình phạt bổ sung trong bản án hình sự.

Ngoài ra, dữ liệu còn bao gồm diễn biến quá trình chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp như: hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án; miễn, giảm thời hạn chấp hành án; tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; đặc xá; buộc chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; chuyển giao người chấp hành án phạt tù; đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp; giải quyết trường hợp người chấp hành án, người bị áp dụng biện pháp tư pháp bỏ trốn hoặc chết; kết quả chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp; khen thưởng, kỷ luật.

Dữ liệu về nơi cư trú, làm việc của người chấp hành án, người bị áp dụng biện pháp tư pháp sau khi chấp hành xong án phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp cũng được cập nhật trong cơ sở dữ liệu.

Đối với pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp, dữ liệu cơ bản bao gồm: bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án hình sự; thông tin về pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp; nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự; diễn biến quá trình chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp bao gồm cưỡng chế thi hành án, chuyển giao nghĩa vụ thi hành án; kết quả chấp hành hình phạt, chấp hành biện pháp tư pháp.

Nghị định cũng quy định việc phân loại và quản lý dữ liệu phải được thực hiện theo tính chất của từng thông tin, dữ liệu cụ thể theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về dữ liệu, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật về kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.

Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải được kiểm tra, xử lý, chuẩn hóa và cập nhật theo quy trình thống nhất, bảo đảm dữ liệu được kiểm tra tính hợp lệ, tính đầy đủ và tính chính xác trước khi đưa vào cơ sở dữ liệu; được chuẩn hóa theo danh mục dữ liệu và tiêu chuẩn dữ liệu do Bộ Công an ban hành.

Theo quy định, dữ liệu phải được cập nhật chậm nhất trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm phát sinh hoặc có thay đổi thông tin liên quan đến quá trình thi hành án hình sự; đồng thời được kết nối, đồng bộ tự động qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu và các phương thức kỹ thuật khác theo quy định của pháp luật, khi đáp ứng điều kiện kỹ thuật thì thực hiện theo thời gian thực.

Bên cạnh đó, dữ liệu được quản lý theo từng nhóm dữ liệu để phục vụ việc khai thác, sử dụng và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành trong lĩnh vực thi hành án mà còn tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường tính liên thông giữa các cơ quan chức năng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và xây dựng nền tư pháp hiện đại trong giai đoạn mới./.

Phú Toàn