Theo Điều 11, Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT, người học là chủ thể của dữ liệu học bạ số và được quyền truy cập, tra cứu, khai thác, sử dụng học bạ số cũng như thực hiện các quyền liên quan theo quy định của pháp luật. Đối với người học chưa thành niên hoặc trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp thì việc thực hiện các quyền này được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Bên cạnh đó, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên được quyền xem dữ liệu học bạ số, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện của người học và đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra, xác minh dữ liệu khi có căn cứ.

Đối với cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý giáo dục, việc truy cập dữ liệu học bạ số được thực hiện theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời phải tuân thủ quy định về phân quyền truy cập nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Thông tư cũng quy định cơ quan tiếp nhận dữ liệu học bạ số chỉ được khai thác phần thông tin cần thiết để giải quyết thủ tục hành chính hoặc thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền. Trong khi đó, các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác chỉ được khai thác dữ liệu học bạ số khi có căn cứ pháp lý hoặc được sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Việc khai thác học bạ số được thực hiện thông qua hệ thống thông tin, phần mềm quản lý giáo dục, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh điện tử VNeID và các nền tảng số khác khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

Việc ban hành quy định về khai thác học bạ số tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, sử dụng dữ liệu học tập trên môi trường số; đồng thời bảo đảm việc chia sẻ, khai thác thông tin được thực hiện đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng thẩm quyền, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, cải cách thủ tục hành chính và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người học trong quá trình chuyển đổi số.

Thu Hồng