Theo quy định, người phải thi hành án được xem xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

Không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng theo quy định pháp luật không được xử lý; không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ đủ bảo đảm mức sống tối thiểu cho bản thân và người có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Sau 05 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà số tiền còn phải thi hành dưới 5 triệu đồng, hoặc sau 10 năm mà số tiền còn lại từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Ngoài ra, người đã tích cực thi hành được một phần nghĩa vụ nhưng rơi vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, ốm đau hoặc có lập công lớn, không còn khả năng tiếp tục thi hành phần nghĩa vụ còn lại, cũng được xem xét miễn phần nghĩa vụ chưa thi hành.

Các trường hợp được xét giảm nghĩa vụ thi hành án:

Đối với người không có điều kiện thi hành án theo quy định nhưng chưa đủ điều kiện để được miễn, pháp luật cho phép xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án, cụ thể: Hết thời hạn 05 năm, nếu số tiền còn phải thi hành từ 5 triệu đồng đến 100 triệu đồng, mỗi lần giảm không quá 1/4 số tiền còn lại.

Hết thời hạn 10 năm, nếu số tiền còn lại trên 100 triệu đồng, mỗi lần giảm không quá 1/5 số tiền còn lại, nhưng tối đa không quá 50 triệu đồng.

Việc xét miễn hoặc giảm chỉ được thực hiện một lần trong một năm đối với mỗi bản án, quyết định, bảo đảm tính chặt chẽ, tránh lợi dụng chính sách.

Những khoản không thuộc diện miễn, giảm: Phần nghĩa vụ được xem xét miễn, giảm không bao gồm lãi chậm thi hành án theo bản án, quyết định. Tuy nhiên, phần lãi phát sinh trên số tiền được miễn, giảm sẽ đương nhiên được miễn, giảm tương ứng. Thời hạn để xác định điều kiện xét miễn, giảm được tính từ quyết định thi hành án lần đầu.

Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án: Theo Điều 43, cơ quan thi hành án dân sự là đơn vị có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm. Hồ sơ gồm:

Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

Bản sao bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;

Bản sao biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;

Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn thể hiện rõ tính nhân đạo, chia sẻ khó khăn với những trường hợp thật sự không còn khả năng thi hành án, góp phần ổn định xã hội và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự./.

Tấn Tài