Bổ sung căn cứ xác định giá trị tài sản làm cơ sở áp dụng khung tiền phạt

Theo Điều 1 Thông tư số 45/2026/TT-BTC, giá trị của tài sản quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 và Nghị định số 55/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026, được xác định theo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, giá trị của tài sản được xác định theo giá trị còn lại của tài sản trên sổ kế toán. Trường hợp giá trị còn lại của tài sản bằng không (0 đồng), giá trị của tài sản được tính bằng 20% nguyên giá của tài sản.

Thứ hai, đối với tài sản chưa được theo dõi, ghi sổ kế toán, việc xác định giá trị tài sản được căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản và hồ sơ, chứng từ có liên quan (nếu có) để xác định giá trị còn lại theo quy định của pháp luật về chế độ quản lý, tính hao mòn và khấu hao áp dụng đối với loại tài sản đó.

Thứ ba, đối với tài sản không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định, việc xác định giá trị của tài sản được thực hiện tương tự như việc xác định giá trị còn lại của tài sản cùng loại theo các nguyên tắc nêu trên.

Thành lập Hội đồng định giá khi không xác định được giá trị tài sản

Thông tư quy định, trường hợp không thể áp dụng các phương pháp nêu trên để xác định giá trị của tài sản làm căn cứ xác định khung tiền phạt thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công đang giải quyết vụ việc sẽ quyết định thành lập Hội đồng định giá để xác định giá trị của tài sản.

Thành phần Hội đồng định giá được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm phù hợp với yêu cầu chuyên môn và tính chất của vụ việc cần xử lý.

Quy định rõ nguyên tắc hoạt động của Hội đồng định giá

Để bảo đảm việc xác định giá trị tài sản được thực hiện khách quan, chính xác và có căn cứ, Thông tư đã bổ sung các nguyên tắc hoạt động của Hội đồng định giá.

Theo đó, tùy theo tính chất, đặc điểm và thực trạng của tài sản cần định giá, Hội đồng định giá thực hiện khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản bằng ít nhất một trong các hình thức như: khảo sát giá thị trường theo giá bán buôn, giá bán lẻ của tài sản cùng loại hoặc tài sản tương tự; nghiên cứu mức giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định đã được áp dụng tại địa phương; tham khảo giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp; tham khảo giá trong hồ sơ, tài liệu kèm theo tài sản hoặc các nguồn thông tin khác có liên quan đến giá trị tài sản cần định giá.

Hội đồng định giá làm việc theo nguyên tắc tập thể. Phiên họp định giá tài sản chỉ được tiến hành khi có mặt từ hai phần ba số lượng thành viên Hội đồng trở lên tham dự; trường hợp Hội đồng có 03 thành viên thì phải có mặt đầy đủ cả 03 thành viên. Chủ tịch Hội đồng có trách nhiệm điều hành phiên họp định giá tài sản. Đối với thành viên vắng mặt, trước khi diễn ra phiên họp phải có văn bản gửi Chủ tịch Hội đồng nêu rõ lý do vắng mặt và ý kiến đối với các vấn đề liên quan đến giá trị tài sản cần định giá.

Kết luận giá trị tài sản theo nguyên tắc đa số

Thông tư quy định Hội đồng định giá kết luận về giá trị tài sản theo nguyên tắc đa số, bao gồm ý kiến biểu quyết của các thành viên tham dự phiên họp và ý kiến bằng văn bản của thành viên vắng mặt.

Trường hợp số phiếu có ý kiến ngang nhau thì ý kiến theo biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định. Thành viên Hội đồng có quyền bảo lưu ý kiến nếu không đồng ý với kết luận về giá trị tài sản do Hội đồng quyết định; ý kiến bảo lưu phải được ghi nhận đầy đủ trong Biên bản định giá tài sản.

Quy định cụ thể về Biên bản định giá tài sản

Hội đồng định giá có trách nhiệm lập Biên bản định giá tài sản, phản ánh đầy đủ, trung thực toàn bộ quá trình định giá và lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.

Biên bản định giá tài sản phải thể hiện đầy đủ các nội dung chủ yếu gồm: họ tên Chủ tịch Hội đồng và các thành viên Hội đồng; họ tên những người tham dự phiên họp (nếu có); thời gian, địa điểm tiến hành định giá; kết quả khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản; ý kiến của các thành viên Hội đồng và người tham dự phiên họp (nếu có); kết quả biểu quyết; thời gian, địa điểm hoàn thành việc định giá; chữ ký của Chủ tịch Hội đồng và các thành viên Hội đồng.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ theo Quyết định thành lập, Hội đồng định giá chấm dứt hoạt động. Các vấn đề phát sinh sau đó sẽ do cơ quan của người có thẩm quyền thành lập Hội đồng chủ trì xem xét, xử lý theo quy định.

Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt và tổ chức, cá nhân vi phạm

Thông tư cũng quy định rõ người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công đang giải quyết vụ việc có trách nhiệm xác định giá trị của tài sản theo quy định.

Đồng thời, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có trách nhiệm phối hợp với Hội đồng định giá trong quá trình xác định giá trị của tài sản, cung cấp thông tin, hồ sơ và các tài liệu liên quan để phục vụ việc định giá được thực hiện đầy đủ, khách quan và chính xác.

Việc ban hành Thông tư số 45/2026/TT-BTC góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công, đặc biệt là cơ chế xác định giá trị tài sản làm căn cứ áp dụng khung tiền phạt.

Thông tư số 45/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 15/6/2026.

Quang Phú