Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP, chính sách trợ giúp xã hội được áp dụng đối với nhiều nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn, trong đó tập trung vào trẻ em, người đơn thân nghèo nuôi con, người cao tuổi, người khuyết tật và người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện theo quy định.

Đáng chú ý, Điều 5 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các trường hợp trẻ em dưới 16 tuổi thuộc đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Theo đó, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây được xác định là đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội:

Thứ nhất, trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi.

Thứ hai, trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được.

Thứ ba, trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Thứ năm, trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ sáu, trẻ em mà cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật.

Thứ bảy, trẻ em mà cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Thứ tám, trẻ em mà cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ chín, trẻ em có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Thứ mười, trẻ em có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ mười một, trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Như vậy, Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP không chỉ xác định trường hợp trẻ em không còn hoặc không có khả năng được cha, mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn bao quát những trường hợp cha, mẹ mất tích, đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Việc quy định cụ thể từng trường hợp là cơ sở để xác định đúng đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.

Bên cạnh nhóm trẻ em dưới 16 tuổi nêu trên, Nghị định số 335/2026/NĐ-CP cũng quy định trường hợp người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học, nếu quá trình học liên tục, không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục.

Ngoài ra, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Đối với người đơn thân nghèo nuôi con, Nghị định xác định là người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng người đó đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi. Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà người con đủ 16 tuổi và tiếp tục học theo các hình thức giáo dục được quy định tại Nghị định thì tiếp tục được hưởng trợ cấp cho đến khi người con kết thúc học, với điều kiện quá trình học liên tục, không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định.

Đối với người cao tuổi, Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định hai trường hợp thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Một là, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Hai là, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Đồng thời, Nghị định quy định trẻ em dưới 03 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, không thuộc các trường hợp đã quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều 5 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP, đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng được hưởng chính sách.

Cuối cùng, người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng cũng được xác định là đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội theo Nghị định.

Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05/10/2026. Việc xác định cụ thể các nhóm đối tượng và từng trường hợp thuộc diện trợ giúp xã hội là căn cứ để thực hiện chính sách đúng đối tượng, bảo đảm việc trợ giúp được thực hiện theo đúng quy định của Nghị định./.

Phú Toàn