Trong đó có quy định chế độ, chính sách đối với học sinh tại trường giáo dưỡng nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của học sinh trong quá trình học tập, rèn luyện và giáo dục; đồng thời tạo điều kiện để các em được chăm sóc về ăn, ở, sinh hoạt, học văn hóa, học nghề, chăm sóc y tế và tư vấn tâm lý phù hợp với lứa tuổi và hoàn cảnh, cụ thể như sau:

Chế độ ăn của học sinh

Học sinh được Nhà nước đảm bảo, tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng gồm:

·        20 kg gạo tẻ;

·        1,5 kg thịt lợn;

·        1,5 kg cá;

·        08 quả trứng gà hoặc trứng vịt;

·        0,5 kg đường;

·        0,75 lít nước mắm;

·        0,1 kg bột ngọt;

·        0,5 kg muối;

·        17 kg rau xanh, củ, quả;

·        0,2 lít dầu ăn;

·        Gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ;

·        Chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.

Chế độ ăn trong các ngày lễ, tết của học sinh được tăng thêm nhưng không được quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.

Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp với thực tế để đảm bảo học sinh ăn hết tiêu chuẩn ăn. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định chế độ ăn đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích trên cơ sở đề xuất của y sĩ hoặc bác sĩ trường giáo dưỡng hoặc theo chỉ định của bác sĩ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng tổng định lượng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn.

Học sinh được sử dụng điện, nước đảm bảo yêu cầu sinh hoạt hằng ngày.

Chế độ mặc, đồ dùng sinh hoạt của học sinh

Chế độ mặc, đồ dùng sinh hoạt của học sinh trong năm được cấp như sau:

·        02 bộ quần áo dài;

·        01 bộ quần áo dài đồng phục;

·        02 bộ quần áo lót;

·        02 đôi dép nhựa;

·        01 áo mưa nilông;

·        01 mũ cứng;

·        01 mũ vải;

·        03 khăn mặt;

·        03 bàn chải đánh răng;

·        02 chiếu cá nhân;

·        800 g kem đánh răng;

·        3,6 kg xà phòng;

·        800 ml dầu gội đầu.

Học sinh vào trường giáo dưỡng được cấp 01 màn, 01 chăn sợi, 01 gối vải cotton lõi bông. Học sinh nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân không quá 05 kg gạo tẻ/học sinh/tháng.

Học sinh tham gia lao động, học nghề đối với những công việc mà pháp luật quy định phải có bảo hộ lao động thì mỗi năm phát thêm 02 bộ quần áo, đồ bảo hộ lao động, học nghề cho học sinh.

Chế độ ở của học sinh

Khu vực ở của học sinh nam và nữ tách riêng, học sinh mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, nhóm B, học sinh gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần được bố trí ở khu riêng. Học sinh từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, học sinh từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, học sinh trên 18 tuổi được sắp xếp ở cùng nhau tại các phòng ở tập thể khác nhau. Không bố trí các học sinh trong cùng vụ án, học sinh có quan hệ anh em ruột, chị em ruột ở cùng một phòng; học sinh là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí ở phòng riêng.

Học sinh được bố trí giường nằm bằng gỗ có chiếu trải, tùy theo tình hình thực tế, có thể bố trí học sinh nằm giường tầng. Diện tích nằm tối thiểu cho mỗi học sinh là 2,5 m2.

Chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh

Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, học sinh được khám sức khỏe định kỳ 06 tháng một lần, cụ thể: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, kiểm tra các thông số về nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể, khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa, khám cận lâm sàng theo chỉ định của bác sĩ. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế cho học sinh được cấp tương đương 07 kg gạo tẻ/01 học sinh/01 tháng.

Trường hợp học sinh khi bị bệnh hoặc thương tích được điều trị tại bệnh xá trường giáo dưỡng, nếu vượt quá khả năng điều trị được chuyển đến cơ sở y tế phù hợp để điều trị và thông báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của học sinh biết, phối hợp với nhà trường chăm sóc, điều trị. Trường hợp tiếp tục vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, đồng thời báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an.

Đối với học sinh có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tâm thần của nhà nước nơi đơn vị đóng quân tổ chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật.

Đối với học sinh có tiền sử nghiện ma túy, căn cứ điều kiện, khả năng trường giáo dưỡng tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; trường hợp học sinh có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy thì phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức cai nghiện theo quy định.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

Thu Hồng