Theo Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, hòa giải ở cơ sở đối với các tranh chấp hụi sẽ áp dụng các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luạt có liên quan. Theo đó, Tổ hòa giải, Hòa giải viên tiến hành, nhằm giúp các bên tự giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp của các các nhân trong cộng đồng dân cư. Sau đây là một số quy định pháp luật vận dụng vào quá trình động viên, thuyết phục, hướng dẫn các bên trong quá trình hòa giải.
Quy định về hụi
Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định như sau: Việc tổ chức hụi phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Việc tổ chức hụi chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về hụi. Không được tổ chức hụi để cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Những tranh chấp hụi được hòa giải ở cơ sở
Những tranh chấp trong lĩnh vực hụi được hòa giải ở cơ sở là những tranh chấp dân sự thuần túy (không có yếu tố tội phạm) như: Mâu thuẫn về thực hiện thỏa thuận hụi (thời gian góp hụi, số tiền góp hụi...). Tranh chấp về việc hốt hụi, thứ tự hốt hụi, bỏ thăm, thỏa thuận xoay vòng. Tranh chấp giữa chủ hụi và hụi viên về việc quản lý dây hụi, công khai thông tin. Mâu thuẫn do chậm góp hụi, góp không đủ, góp không đúng kỳ.
Không hòa giải tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự như: Hoạt động hụi có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; lợi dụng hụi để cho vay nặng lãi; hoạt động “tín dụng đen” hoặc huy động vốn trái pháp luật; các hành vi vi phạm pháp luật khác vi phạm pháp luật về: hình sự, xử lý vi phạm hành chính.
Một số quy định pháp luật về Nghĩa vụ của chủ hụi, thành viên tham gia hụi để vận dụng vào hòa giải
Nghĩa vụ của chủ hụi
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, chủ hụi có nghĩa vụ: Thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi. Thông báo đầy đủ về số lượng dây hụi; phần hụi, kỳ mở hụi; số lượng thành viên của từng dây hụi mà mình đang làm chủ hụi cho người muốn gia nhập dây hụi. Giao các phần hụi cho thành viên lĩnh hụi tại mỗi kỳ mở hụi. Nộp thay phần hụi của thành viên nếu đến kỳ mở hụi mà có thành viên không góp phần hụi. Để các thành viên xem, sao chụp sổ hụi và cung cấp các thông tin liên quan đến dây hụi khi có yêu cầu. Thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây hụi khi thuộc một trong các trường hợp: Tổ chức dây hụi có giá trị các phần hụi tại một kỳ mở hụi từ 100 triệu đồng trở lên; Tổ chức từ hai dây hụi trở lên. Chủ hụi phải lập và giữ sổ hụi, trừ trường hợp có thỏa thuận về việc một thành viên lập và giữ sổ hụi; khi góp hụi, lĩnh hụi, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ hụi hoặc người lập và giữ sổ hụi cấp giấy biên nhận về việc đó.
Nghĩa vụ của thành viên
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ cũng quy định, thành viên có nghĩa vụ: Góp phần hụi theo thoả thuận. Thông báo về nơi cư trú mới trong trường hợp có thay đổi cho những người tham gia dây hụi. Tiếp tục góp các phần hụi để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh hụi trong trường hợp đã lĩnh hụi trước thành viên khác. Thực hiện các nghĩa vụ của thành viên về rút khỏi dây hụi, chấm dứt dây hụi. Trong trường hợp không có chủ hụi thì thành viên được giao lập và giữ sổ hụi có các nghĩa vụ lập và giữ sổ hụi. Để các thành viên xem, sao chụp sổ hụi và cung cấp các thông tin liên quan đến dây hụi khi có yêu cầu. Gửi thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây hụi. Riêng: Thành viên trong hụi có lãi còn có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa lĩnh hụi khi được lĩnh hụi. Thành viên trong hụi hưởng hoa hồng còn có nghĩa vụ trả khoản hoa hồng cho chủ hụi khi lĩnh hụi theo thỏa thuận.
Một số quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động hụi
Theo quy định tại Điều 16 của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự…. Thì các hành vi thực hiện không đúng của chủ hụi như nêu ở trên đều có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó, các hành vi vi phạm quy định về hụi có thể bị xử phạt VPHC lên đến 20 triệu đồng. (Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng Các hành vi như: Không lập biên bản thỏa thuận về dây hụi hoặc lập biên bản nhưng không có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật;Không lập sổ hụi; Không giao các phần hụi cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở hụi; Không cho các thành viên xem, sao chụp sổ hụi khi có yêu cầu; Không giao giấy biên nhận cho thành viên khi góp hụi, lĩnh hụi... Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng hành vi: Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100.000.000 đồng trở lên; Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức từ hai dây họ trở lên. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự; Tổ chức hụi để huy động vốn trái pháp luật)
Trường hợp có dấu hiệu hình sự thì Nếu người chơi hoặc chủ hụi có hành vi gian dối, bỏ trốn, chiếm đoạt số tiền lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều người, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015); hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015). Tùy theo giá trị chiếm đoạt, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; trường hợp nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; nếu chiếm đoạt trên 500 triệu đồng hoặc gây ảnh hưởng xấu trong xã hội: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Những lưu ý khi hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp về hụi
Không phải mọi tranh chấp hụi đều được hòa giải ở cơ sở. Một số trường hợp không được hòa giải ở cơ sở cụ thể:
Không hòa giải tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự như:
- Hoạt động hụi có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;
- Lợi dụng hụi để cho vay nặng lãi
- Hoạt động “tín dụng đen” hoặc huy động vốn trái pháp luật
- Các hành vi vi phạm pháp luật khác vi phạm pháp luật về: hình sự, xử lý vi phạm hành chính.
Trong nhiều trường hợp, nếu các bên còn giữ thiện chí, việc thương lượng – hòa giải sớm có thể giúp giải quyết ổn thỏa, tiết kiệm thời gian, chi phí và giữ được mối quan hệ đoàn kết trong xóm làng. Do đó Tổ hòa giải, hòa giải viên chủ động, tích cực thực hiện để duy trì tình làng, nghĩa xớm, đoàn kết cùng nhau phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Nguyên Thị

