
Đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau thường xuyên được Sở Tư pháp tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng và cập nhật kiến thức pháp luật về hỏa giải ở cơ sở. Trong ảnh, hòa giải viên xã Tân Lộc dự hội nghị tập huấn hồi nửa đầu tháng 8/2026.
Tôn trọng sự tự nguyện, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Nguyên tắc đầu tiên và có ý nghĩa xuyên suốt trong hòa giải ở cơ sở là tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa hòa giải ở cơ sở với hoạt động giải quyết tranh chấp bằng quyền lực nhà nước.
Hòa giải viên có trách nhiệm vận động, thuyết phục, phân tích để các bên hiểu đúng vấn đề, nhận diện quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó tự quyết định việc hòa giải và phương án giải quyết. Hòa giải viên không thể buộc một bên phải tham gia hòa giải, càng không thể nhân danh tổ hòa giải hoặc chính quyền địa phương để yêu cầu các bên chấp nhận một phương án nhất định.
Chẳng hạn, khi hai hộ gia đình xảy ra tranh chấp về ranh giới đất, hòa giải viên cần lắng nghe ý kiến của từng bên, tìm hiểu nguồn gốc sử dụng đất, các giấy tờ liên quan và nguyên nhân phát sinh tranh chấp; đồng thời giải thích những quy định pháp luật có liên quan. Nếu các bên thống nhất được phương án giải quyết thì hòa giải viên hỗ trợ các bên ghi nhận kết quả. Trường hợp một bên không đồng ý hòa giải hoặc không chấp nhận phương án được đề xuất thì phải tôn trọng quyết định đó.
Cùng với sự tự nguyện, pháp luật yêu cầu việc hòa giải phải phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; đồng thời phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư. Điều này đòi hỏi hòa giải viên phải biết kết hợp giữa “lý” và “tình”, nhưng không được lấy tình cảm, phong tục hoặc quan hệ cộng đồng để làm căn cứ gạt bỏ quy định pháp luật.
Đặc biệt, trong quá trình hòa giải, hòa giải viên phải quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi. Đây là yêu cầu có ý nghĩa thực tiễn, nhất là đối với các vụ việc mâu thuẫn gia đình, tranh chấp tài sản, nuôi dưỡng, chăm sóc người thân hoặc những vấn đề có liên quan đến người yếu thế.
Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 yêu cầu hòa giải phải khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên. Hòa giải viên phải tránh đứng về một bên, không để quan hệ họ hàng, tình cảm cá nhân hoặc những định kiến có sẵn chi phối quá trình hòa giải.
Trong thực tế, nhiều vụ việc ở cộng đồng dân cư bắt đầu từ những mâu thuẫn tưởng như nhỏ như: tiếng ồn, lối đi chung, cây cối, ranh giới đất, việc sử dụng nguồn nước, mâu thuẫn giữa các thành viên gia đình… Nếu được phát hiện và hòa giải kịp thời, vụ việc có thể được giải quyết ngay từ cơ sở. Ngược lại, nếu hòa giải viên thiếu khách quan, chậm tiếp cận hoặc để thông tin đời tư của các bên bị lan truyền, mâu thuẫn có thể trở nên phức tạp hơn.
Tại các lớp tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải ở cơ sở do Sở Tư pháp tổ chức thời gian qua, bà Phạm Thị Ngọc đặc biệt lưu ý hòa giải viên về kỹ năng tiếp cận các bên, lắng nghe, phân tích nguyên nhân mâu thuẫn và định hướng phương án giải quyết. Theo đó, trước khi đưa ra bất kỳ đề xuất nào, hòa giải viên cần hiểu được vấn đề pháp lý cũng như nguyên nhân, tâm lý và nhu cầu thực sự của các bên. Nhiều trường hợp, điều các bên cần không chỉ là giải quyết một lợi ích vật chất cụ thể mà còn là sự tôn trọng, được lắng nghe hoặc được giải thích thỏa đáng.
Nguyên tắc hòa giải ở cơ sở là một trong những nội dung quan trọng được bà Phạm Thị Ngọc, Phó Giám đốc Sở Tư pháp - Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh đề cập và phân tích, giải thích tại các buổi tập huấn.
Hòa giải đúng pháp luật, đúng giới hạn và không làm thay cơ quan có thẩm quyền
Một nguyên tắc quan trọng khác là tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu hòa giải viên phải phân biệt rõ giữa việc hỗ trợ các bên tự giải quyết mâu thuẫn với việc tự mình “phán xử” vụ việc.
Hòa giải viên có thể phân tích quy định pháp luật, giải thích quyền và nghĩa vụ, đề xuất hướng giải quyết để các bên cân nhắc; nhưng không có quyền áp đặt một bên phải giao tài sản, trả tiền, từ bỏ quyền hoặc thực hiện một nghĩa vụ mà pháp luật không quy định và bên đó không tự nguyện chấp nhận.
Cùng với đó, bình đẳng giới phải được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Trong các vụ việc liên quan đến quan hệ gia đình, tài sản, quyền nuôi con hoặc trách nhiệm của các thành viên, hòa giải viên cần đánh giá vấn đề trên cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của từng người, không mặc nhiên đặt một giới lên vị trí ưu tiên hoặc xem nhẹ quyền lợi của giới còn lại.
Đặc biệt, pháp luật nghiêm cấm việc lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên bảo vệ quyền lợi của mình hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự. Đây là giới hạn rất quan trọng đối với hoạt động hòa giải.
Ví dụ, nếu một vụ việc có dấu hiệu tội phạm, hòa giải viên không thể lấy lý do “chuyện trong xóm nên tự giải quyết” để ngăn cản người bị hại trình báo cơ quan có thẩm quyền. Tương tự, đối với hành vi vi phạm hành chính, việc các bên tự thỏa thuận không đồng nghĩa với việc đương nhiên loại trừ trách nhiệm xử lý theo quy định pháp luật.
Hòa giải viên ở cơ sở trao đổi với Báo cáo viên xoay quanh các vấn đề liên quan đến công tác hòa giải tại địa phương.
Qua các lớp tập huấn, bà Phạm Thị Ngọc cũng dành nhiều thời gian trao đổi với hòa giải viên về những tình huống thực tế phát sinh tại địa phương. Các tình huống về mâu thuẫn gia đình, bất đồng trong sinh hoạt cộng đồng được đặt ra để đại biểu cùng phân tích: việc nào có thể hòa giải, hòa giải như thế nào, giới hạn của hòa giải viên ở đâu và khi nào cần hướng dẫn người dân thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Đây là kỹ năng có ý nghĩa thiết thực. Hòa giải viên không nhất thiết phải “giải quyết được tất cả” các vụ việc, mà quan trọng hơn là phải nhận diện đúng tính chất vụ việc, áp dụng đúng pháp luật và không vượt quá giới hạn của hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Có thể thấy, 06 nguyên tắc tại Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 tạo thành một chỉnh thể thống nhất: lấy sự tự nguyện làm nền tảng; lấy pháp luật, đạo đức và lợi ích hợp pháp làm giới hạn; lấy khách quan, công bằng, có lý, có tình làm phương pháp; đồng thời bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ người yếu thế và không để hòa giải bị lợi dụng nhằm né tránh trách nhiệm pháp lý.
Trong đời sống cộng đồng, không phải mọi mâu thuẫn đều cần đến một quyết định của cơ quan nhà nước. Nhiều vụ việc có thể được tháo gỡ bằng sự chân thành, thấu hiểu và cách thức hòa giải phù hợp ngay từ cơ sở. Tuy nhiên, để “hòa giải thành” thực sự có ý nghĩa, hòa giải viên phải biết vận dụng pháp luật cùng kỹ năng ứng xử, đồng thời luôn giữ đúng những giới hạn mà pháp luật đặt ra. Việc nắm vững và tuân thủ nguyên tắc hòa giải ở cơ sở không chỉ giúp nâng cao chất lượng từng vụ việc hòa giải mà còn góp phần phòng ngừa tranh chấp, củng cố tình làng nghĩa xóm, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng và xây dựng đời sống xã hội ổn định, thượng tôn pháp luật./.
Phú Toàn

