Theo quy định, việc giảm mức đóng kinh phí công đoàn được áp dụng đối với các trường hợp đã hết thời gian được tạm dừng đóng kinh phí công đoàn theo Điều 13 của Nghị định số 105/2026/NĐ-CP nhưng vẫn tiếp tục phải cắt giảm lao động.

Cụ thể, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được xem xét giảm mức đóng khi tiếp tục phải cắt giảm số lao động hiện có từ 30% hoặc từ 30 lao động trở lên đối với đơn vị sử dụng dưới 200 lao động; đối với hợp tác xã là từ 30 thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết góp vốn trở lên. Đối với đơn vị sử dụng từ 200 đến 1.000 lao động, điều kiện là cắt giảm từ 50 lao động trở lên; đối với hợp tác xã là từ 50 thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết góp vốn trở lên. Đối với đơn vị sử dụng trên 1.000 lao động, điều kiện là cắt giảm từ 100 lao động trở lên; đối với hợp tác xã là từ 100 thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết góp vốn trở lên.

Nghị định cũng quy định rõ, các trường hợp trên không bao gồm việc tuyển dụng mới 20% so với số lượng lao động đã bị cắt giảm trong vòng 03 tháng kể từ ngày cắt giảm lao động. Quy định này nhằm bảo đảm việc cắt giảm lao động là thực tế và phản ánh đúng khó khăn của đơn vị, tránh lợi dụng chính sách để giảm nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn.

Về thời gian được giảm mức đóng kinh phí công đoàn, Nghị định quy định thời gian giảm được tính theo tháng và tối đa không quá 06 tháng. Sau khi hết thời hạn này, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải tiếp tục đóng kinh phí công đoàn theo mức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 của Luật Công đoàn.

Mức giảm đóng kinh phí công đoàn tối đa là 20% so với mức đóng kinh phí công đoàn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 của Luật Công đoàn. Đây là mức hỗ trợ nhằm chia sẻ khó khăn với đơn vị sử dụng lao động trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh gặp biến động, nhưng vẫn bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động công đoàn.

Về thẩm quyền xem xét, việc quyết định giảm mức đóng kinh phí công đoàn thuộc thẩm quyền của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh theo phân cấp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quy định.

Để được xem xét, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải gửi 01 bộ hồ sơ gồm văn bản đề nghị theo mẫu Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định; đồng thời gửi kèm báo cáo tình hình sử dụng lao động, danh sách người lao động thuộc diện phải cắt giảm theo quy định và tổng số lao động có mặt trước thời điểm cắt giảm. Hồ sơ được gửi đến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính theo hướng dẫn cụ thể.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, căn cứ khả năng cân đối tài chính công đoàn (không bao gồm nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ), cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và trả lời bằng văn bản về việc giảm mức đóng kinh phí công đoàn. Trường hợp không chấp thuận thì phải nêu rõ lý do.

Việc ban hành quy định trên góp phần tạo cơ sở pháp lý minh bạch để hỗ trợ người sử dụng lao động trong giai đoạn khó khăn, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và tổ chức công đoàn. Đây là chính sách mang tính hỗ trợ thiết thực, vừa chia sẻ khó khăn với đơn vị sản xuất, vừa duy trì nguồn lực cho hoạt động công đoàn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Nghị định số 105/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 5 năm 2026.

Quang Phú