Luật quy định, tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội được cơ quan có thẩm quyền ban bố, công bố khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra thảm họa, hoặc khi có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; đe dọa quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Theo đó, tình trạng khẩn cấp được phân thành ba loại, gồm: tình trạng khẩn cấp về thảm họa; tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; và tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Việc phân loại rõ ràng giúp các cơ quan chức năng lựa chọn biện pháp ứng phó phù hợp, bảo đảm hiệu quả và đúng thẩm quyền.
Luật cũng đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong tình trạng khẩn cấp, nhằm bảo đảm kỷ cương, trật tự và hiệu lực quản lý nhà nước. Cụ thể:
Nghiêm cấm chống đối, cản trở, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, yêu cầu của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp.
Nghiêm cấm lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nghiêm cấm lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nghiêm cấm trì hoãn, từ chối việc hoàn trả tài sản được huy động, trưng dụng của tổ chức, cá nhân hoặc không bồi thường thiệt hại do việc huy động, trưng dụng tài sản gây ra cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Nghiêm cấm thông tin sai sự thật về tình trạng khẩn cấp.
Bên cạnh đó, Luật Tình trạng khẩn cấp dành một điều quy định cụ thể về thông tin trong tình trạng khẩn cấp, nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch và chính xác. Theo đó, số điện thoại 112 được sử dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc để tiếp nhận, xử lý thông tin về tình trạng khẩn cấp do thảm họa.
Luật Tình trạng khẩn cấp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Tấn Tài

