Một trong những nội dung đáng chú ý của Quyết định là việc sửa đổi, bổ sung quy định về phí bảo lãnh tại Điều 9. Theo đó, doanh nghiệp đề nghị bảo lãnh vay vốn phải thực hiện hai khoản phí gồm: phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn với mức 500.000 đồng/hồ sơ và phí bảo lãnh vay vốn bằng 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
Khoản phí thẩm định được nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam ngay tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị bảo lãnh. Toàn bộ số phí thu được sẽ được cơ quan này hạch toán vào thu nhập theo quy định.
Đáng chú ý, Quyết định cũng trao thẩm quyền cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định việc xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản hoặc giải thể sau khi hoàn tất thanh lý tài sản theo quy định pháp luật. Đồng thời, ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Tại Điều 20, Quyết định đã làm rõ cơ chế xử lý đối với nợ vay bắt buộc bảo lãnh sau khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Theo đó, doanh nghiệp được bảo lãnh phải nhận nợ và ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh với ngân hàng này, từ đó chuyển sang tư cách bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
Hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh phải quy định đầy đủ các nội dung quan trọng như lãi suất, thời hạn trả nợ và biện pháp bảo đảm tiền vay. Trong đó, lãi suất được áp dụng theo mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng; lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn.
Thời hạn trả nợ sẽ được xem xét trên cơ sở tình hình tài chính và khả năng trả nợ thực tế của doanh nghiệp. Đối với tài sản bảo đảm, ngân hàng được quyền định giá lại và yêu cầu bổ sung biện pháp bảo đảm nếu cần thiết nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.
Theo quy định mới, doanh nghiệp nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký. Tuy nhiên, trên cơ sở đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của doanh nghiệp, Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thể xem xét miễn, giảm lãi vay trong một số trường hợp cụ thể.
Dù vậy, Quyết định cũng quy định rõ, khi áp dụng cơ chế miễn, giảm lãi thì ngân sách nhà nước sẽ không thực hiện cấp bù lãi suất và phí quản lý đối với toàn bộ dư nợ của khoản vay đó. Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm tài chính và hạn chế tình trạng phụ thuộc vào hỗ trợ ngân sách.
Bên cạnh đó, việc xử lý rủi ro đối với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh sẽ được thực hiện theo cơ chế xử lý rủi ro tín dụng do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Đối với quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tại Điều 21, Quyết định yêu cầu việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro phải tuân thủ đúng quy định về chế độ quản lý tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng như các cơ chế xử lý rủi ro tín dụng hiện hành.
Có thể thấy, Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg đã bổ sung nhiều quy định quan trọng liên quan đến phí bảo lãnh, cơ chế nợ vay bắt buộc và xử lý rủi ro tín dụng. Đây được xem là bước điều chỉnh cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn vay minh bạch, an toàn và bền vững hơn trong bối cảnh phục hồi và phát triển kinh tế hiện nay.
Quy định mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2026.
Quang Phú

