Theo Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, hòa giải ở cơ sở đối với các tranh chấp vay tài sản sẽ áp dụng các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, Tổ hòa giải, Hòa giải viên tiến hành, nhằm giúp các bên tự giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp của các các nhân trong cộng đồng dân cư. Để giúp Tổ hòa giải, Hòa giải viên thuận lợi hơn trong vận dụng các quy định pháp luật có liên quan vào công tác hòa giải. Sau đây là một số quy định pháp luật vận dụng vào quá trình động viên, thuyết phục, hướng dẫn các bên trong quá trình hòa giải.
Vay tài sản là một giao dịch dân sự
Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Cũng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Hình thức của hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự ( Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015). Theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức giao dịch dân sự: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”. Như vậy, hình thức của hợp đồng vay tài sản có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể.
Theo Điều 465, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ của bên cho vay giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 470 như sau: Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý. 2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác). hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này. Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.
Thỏa thuận lãi suất
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực (theo Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn là 20%/năm quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ (theo Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, lãi suất được áp dụng tương ứng 10%/năm của khoản tiền vay tại thời điểm trả nợ.
Nợ quá hạn (có lãi) trả lãi trên nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng (điểm b, khoản 5, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Ví dụ: Do đang cần gấp tiền để trả nợ, A đã tìm đến B - một người ở cùng xóm để vay 100 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận, sau 01 năm (12 tháng )A phải trả cả gốc và lãi cho B là 125 triệu đồng.
Như vậy, Trong trường hợp này: B cho A vay 100 triệu đồng, tiền lãi là 25 triệu đồng trong 12 tháng. Vậy lãi suất theo năm là = 25.000.000/100.000.000 x 100% = 25%/năm. Mức lãi suất này đã vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay; do đó, mức lãi suất 25%/năm không có hiệu lực. Do vậy, khi hòa giải mức lãi suất để tính lãi tối đa trong tình huống này là: 20%/năm (tương đương 20 triệu đồng)./.
Nguyên Thị

