
Năm 2026, Sở Tư pháp đã tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp pháp luật cho 64/64 xã, phường trên địa bàn tỉnh
1. Chuẩn tiếp cận pháp luật – từ một công cụ đánh giá đến yêu cầu về chất lượng quản trị ở cơ sở
Việc xây dựng xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền được thông tin, tìm hiểu và sử dụng pháp luật của người dân; đồng thời phản ánh mức độ tổ chức thi hành pháp luật, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền ở cơ sở.
Từ ngày 01/01/2026, việc đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện theo Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. So với giai đoạn trước, phương thức đánh giá có sự thay đổi đáng kể, nhất là cách xác định mức độ đạt chuẩn, yêu cầu đối với từng chỉ tiêu và hệ thống tài liệu chứng minh.
Điểm cần đặc biệt quan tâm là sự chuyển đổi từ tư duy chủ yếu dựa trên tổng số điểm sang yêu cầu đạt đầy đủ các tiêu chí, chỉ tiêu. Với cơ chế này, kết quả tốt của chỉ tiêu này không thể bù cho chỉ tiêu khác chưa đạt. Một xã, phường dù hoàn thành tốt phần lớn nhiệm vụ nhưng chỉ còn một chỉ tiêu không đạt mức chuẩn theo quy định thì vẫn chưa đủ điều kiện được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.
Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật đánh giá mà còn làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở. Nếu trước đây có thể chú trọng tổng hợp kết quả vào cuối năm thì với cơ chế mới, từng tiêu chí, chỉ tiêu phải được theo dõi thường xuyên, bởi nhiều yêu cầu liên quan đến thời hạn, tỷ lệ, số lượng, kết quả đầu ra hoặc chất lượng thực hiện không thể khắc phục bằng việc bổ sung hồ sơ khi thời điểm đánh giá đã đến.
Mặt khác, nội dung chuẩn tiếp cận pháp luật ngày càng gắn trực tiếp với các nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã như ban hành văn bản quy phạm pháp luật, công khai và cung cấp thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và bảo đảm các điều kiện để người dân thực hiện quyền tiếp cận pháp luật. Vì vậy, kết quả chuẩn tiếp cận pháp luật không nên được nhìn nhận đơn thuần là một “danh hiệu” hằng năm mà cần được xem là một trong những thước đo phản ánh chất lượng quản trị, tổ chức thi hành pháp luật và mức độ phục vụ người dân của chính quyền cơ sở.
2. Điều kiện đạt 100% tiêu chí, chỉ tiêu – yêu cầu cần thiết nhưng tạo ra áp lực mới
Một trong những nội dung có tác động lớn nhất của cơ chế mới là yêu cầu cấp xã phải đạt đầy đủ các tiêu chí, chỉ tiêu.
Cần hiểu chính xác rằng “đạt 100%” ở đây là 100% số tiêu chí, chỉ tiêu phải được xác định đạt, chứ không phải mọi hoạt động hoặc mọi tỷ lệ thành phần bên trong từng chỉ tiêu đều bắt buộc phải đạt 100%. Mỗi chỉ tiêu có nội dung và mức chuẩn riêng theo quy định. Chỉ khi cấp xã đáp ứng mức chuẩn của từng chỉ tiêu thì chỉ tiêu đó mới được xác định là đạt.
Cách thiết kế này có nhiều ưu điểm. Trước hết, nó khắc phục nguy cơ một số nội dung quan trọng không được thực hiện đầy đủ nhưng địa phương vẫn được công nhận nhờ tổng số điểm của các nội dung khác. Khi từng chỉ tiêu đều trở thành điều kiện bắt buộc, trách nhiệm của chính quyền cấp xã đối với mỗi nhóm nhiệm vụ được nâng lên và kết quả đánh giá có điều kiện phản ánh thực chất hơn tình hình tổ chức thi hành pháp luật.
Tuy nhiên, chính yêu cầu này cũng tạo ra áp lực đáng kể.
Thứ nhất, rủi ro không đạt chuẩn có thể xuất phát từ một chỉ tiêu duy nhất. Một sai sót về thời hạn, một tỷ lệ không đạt mức quy định hoặc thiếu điều kiện bắt buộc có thể làm ảnh hưởng đến kết quả chung của cả xã. Điều đó đòi hỏi việc nhận diện “chỉ tiêu có nguy cơ” phải được thực hiện sớm, thay vì chờ đến thời điểm tự đánh giá.
Thứ hai, “có thực hiện” chưa đồng nghĩa với “đạt chỉ tiêu”. Một xã đã tổ chức tuyên truyền pháp luật, thực hiện hòa giải, công khai thông tin hay triển khai các nhiệm vụ có liên quan nhưng vẫn có thể chưa đạt nếu kết quả không đáp ứng đúng mức chuẩn. Vì vậy, cán bộ được phân công không chỉ cần biết phải làm nhiệm vụ gì mà còn phải biết chính xác làm đến mức nào mới được xác định là đạt.
Thứ ba, cơ chế này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với tài liệu chứng minh. Việc thực hiện trên thực tế phải được phản ánh bằng tài liệu phù hợp. Nếu hoạt động đã được tiến hành nhưng hồ sơ không thể hiện được thời điểm thực hiện, kết quả, tỷ lệ hoặc nội dung cần kiểm chứng thì vẫn khó có đủ căn cứ để xác định chỉ tiêu đạt. Tài liệu chứng minh vì vậy không nên được hiểu là thủ tục phát sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ, mà phải được hình thành đồng thời với quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Sở Tư pháp tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp pháp luật cụm số 2 tổ chức tại Phường Tân Thành với sự tham dự của 13 đơn vị xã, phường
3. Thực tiễn triển khai tại tỉnh Cà Mau
Năm 2026 là năm đầu tiên tỉnh Cà Mau triển khai đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo cơ chế mới trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Đây vừa là yêu cầu mới về chuyên môn, vừa đặt ra bài toán phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và chính quyền cấp xã. Trên cơ sở quy định của Trung ương, tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ.
Trực tiếp đối với công tác chuẩn tiếp cận pháp luật, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 38/KH-UBND về thực hiện đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2026, xác định nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Trước đó, Chủ tịch UBND tỉnh có Công văn số 08585/UBND-NC ngày 28/11/2025, yêu cầu việc đánh giá bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, đúng thực chất, lấy người dân làm trung tâm; đồng thời giao Sở Tư pháp hướng dẫn, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn và thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến thẩm định kết quả.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng ban hành Quyết định số 01636/QĐ-UBND ngày 06/11/2025 công bố thủ tục hành chính nội bộ lĩnh vực chuẩn tiếp cận pháp luật, góp phần chuẩn hóa các bước đánh giá, công khai kết quả, lập hồ sơ, thẩm định và trình công nhận. Sở Tư pháp tiếp tục hướng dẫn việc tự đánh giá, thu thập tài liệu chứng minh, tổ chức họp, công khai kết quả và lập hồ sơ đề nghị công nhận.
Điểm đáng chú ý là tỉnh không triển khai chuẩn tiếp cận pháp luật hoàn toàn tách biệt mà nhiều nhiệm vụ có quan hệ trực tiếp với các tiêu chí, chỉ tiêu đã được tổ chức thông qua các kế hoạch, chương trình chuyên môn khác.
Kế hoạch số 19/KH-UBND ngày 15/01/2026 về thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 xác định các nhiệm vụ PBGDPL có trọng tâm, đổi mới phương thức truyền thông và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Các nhiệm vụ này có quan hệ trực tiếp đến nội dung đánh giá về phổ biến, giáo dục pháp luật.
Kế hoạch số 22/KH-UBND về thực hiện Đề án “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân” năm 2026 tiếp tục hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước tới mục tiêu nâng cao khả năng tìm hiểu, tiếp cận và sử dụng pháp luật của người dân. Đây cũng chính là mục tiêu sâu xa mà chuẩn tiếp cận pháp luật hướng tới.
Về nguồn lực, Nghị quyết số 27/2026/NQ-HĐND ngày 14/5/2026 của HĐND tỉnh Cà Mau đã quy định mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở. Qua đó tạo cơ sở để địa phương bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ có liên quan.
Như vậy, Cà Mau đã từng bước hình thành chuỗi công việc từ chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, chuẩn hóa thủ tục, hướng dẫn nghiệp vụ đến bảo đảm kinh phí và tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 64/64 xã, phường. Đây là tiền đề quan trọng cho việc triển khai cơ chế mới.
Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm hiện nay đó là làm thế nào chuyển sự đồng bộ của hệ thống văn bản thành sự liên thông trong tổ chức thực hiện tại cấp xã.
Thực tế, một chỉ tiêu chuẩn tiếp cận pháp luật có thể liên quan đồng thời đến nhiều cán bộ, công chức, bộ phận chuyên môn. Trong khi đó, kết quả cuối cùng lại phải được tập hợp thành một bộ hồ sơ thống nhất của UBND cấp xã. Nếu từng người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình mà không biết nhiệm vụ đó phục vụ chỉ tiêu nào, cần đạt mức nào và phải lưu lại sản phẩm gì thì đến cuối năm rất dễ phát sinh tình trạng “việc đã làm nhưng không chứng minh được”, số liệu giữa các bộ phận không thống nhất hoặc một nội dung tưởng đã hoàn thành nhưng thực tế chưa đạt mức chuẩn.
Đây chính là một trong những thách thức lớn nhất của quá trình triển khai.
4. Cần chuyển từ “đánh giá cuối năm” sang “quản lý quá trình”
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy, yêu cầu quan trọng nhất để nâng cao chất lượng chuẩn tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới là thay đổi phương thức tổ chức thực hiện.
Trước hết, chuẩn tiếp cận pháp luật phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên của UBND cấp xã, không phải một hồ sơ phát sinh vào cuối năm.
Ngay từ đầu năm, UBND cấp xã cần rà soát đầy đủ từng tiêu chí, chỉ tiêu; xác định bộ phận hoặc cá nhân chịu trách nhiệm chính; mức chuẩn phải hoàn thành; tài liệu cần hình thành và thời hạn kiểm tra kết quả. Việc phân công cần đi đến từng chỉ tiêu cụ thể, tránh giao chung chung cho một cán bộ “phụ trách chuẩn tiếp cận pháp luật”, bởi người được giao đầu mối không thể thay thế trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các bộ phận khác.
Thứ hai, cần xây dựng bảng theo dõi tiến độ từng chỉ tiêu.
Bảng theo dõi ít nhất cần thể hiện: tên tiêu chí, chỉ tiêu; nội dung phải thực hiện; mức chuẩn; đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm; thời hạn hoàn thành; sản phẩm, tài liệu chứng minh; kết quả tại thời điểm kiểm tra và nguy cơ không đạt.
Nếu thực hiện tốt công cụ này, UBND cấp xã sẽ có khả năng phát hiện sớm các chỉ tiêu đang ở trạng thái “chưa đạt” hoặc “có nguy cơ không đạt”, từ đó có biện pháp khắc phục trong thời gian còn cho phép.
Thứ ba, phải kết nối các kế hoạch, chương trình có liên quan với hệ thống chỉ tiêu chuẩn tiếp cận pháp luật.
Thay vì coi kế hoạch PBGDPL, kế hoạch tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật, công tác hòa giải ở cơ sở hay công khai thông tin là các “mảng” công việc riêng biệt, cần xác định rõ kết quả của mỗi nhiệm vụ đó đóng góp vào tiêu chí, chỉ tiêu nào của chuẩn tiếp cận pháp luật.
Cách làm này không những giảm trùng lặp mà còn hạn chế tình trạng cùng một nội dung phải làm nhiều bộ hồ sơ phục vụ nhiều kế hoạch khác nhau.
Thứ tư, cần coi tài liệu chứng minh là sản phẩm của quá trình thực hiện nhiệm vụ, không phải hồ sơ được tạo ra để phục vụ riêng cho việc chấm chuẩn.
Mỗi hoạt động khi hoàn thành phải đồng thời hình thành tài liệu phù hợp và được lưu trữ có hệ thống. Đối với những chỉ tiêu có tỷ lệ, phải cập nhật số liệu từ đầu kỳ và thống nhất phương pháp tính. Đối với chỉ tiêu có yêu cầu thời hạn, phải kiểm soát thời điểm thực hiện. Đối với chỉ tiêu gắn với kết quả đầu ra, phải xác định ngay từ đầu loại tài liệu nào có thể phản ánh chính xác kết quả đó.
Thứ năm, cần tăng cường kiểm tra giữa kỳ và hỗ trợ các xã, phường có nguy cơ không đạt.
Nếu chỉ kiểm tra hồ sơ vào thời điểm thẩm định thì nhiều hạn chế sẽ không còn khả năng khắc phục. Vì vậy, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh cần tập trung hướng dẫn theo hướng nhận diện sớm những chỉ tiêu khó, chỉ tiêu có tỷ lệ hoặc thời hạn bắt buộc; đồng thời tổ chức hỗ trợ đối với những địa phương còn lúng túng.
Đặc biệt, trong năm đầu triển khai cơ chế mới và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, hoạt động hướng dẫn cần chuyển từ giải thích quy định chung sang hướng dẫn theo tình huống cụ thể: chỉ tiêu này ai chịu trách nhiệm, mức nào là đạt, cách tính ra sao, tài liệu nào có thể sử dụng để chứng minh và thời điểm nào phải hoàn thành.
Thứ sáu, phải giữ vững nguyên tắc đánh giá thực chất, không chạy theo tỷ lệ xã, phường được công nhận.
Tỷ lệ địa phương đạt chuẩn cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi phản ánh đúng chất lượng tổ chức thi hành pháp luật. Nếu vì áp lực thành tích mà hợp thức hóa một chỉ tiêu chưa đạt thì chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ mất đi chức năng phát hiện hạn chế và thúc đẩy cải thiện chất lượng quản trị ở cơ sở.
Do đó, đối với địa phương chưa đáp ứng đủ điều kiện, điều cần thiết không phải tìm cách “đủ hồ sơ để đạt”, mà là xác định chính xác nguyên nhân chưa đạt và có giải pháp khắc phục trong kỳ tiếp theo.
5. Một số kiến nghị từ thực tiễn Cà Mau
Để cơ chế đánh giá mới phát huy hiệu quả, từ thực tiễn triển khai có thể đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục quan tâm.
Một là, tiếp tục hoàn thiện tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ theo hướng “cầm tay chỉ việc” đối với từng tiêu chí, chỉ tiêu, trong đó làm rõ nội dung phải thực hiện, chủ thể chịu trách nhiệm, cách xác định mức đạt và nhóm tài liệu chứng minh tương ứng.
Hai là, nghiên cứu xây dựng công cụ theo dõi thống nhất trong toàn tỉnh, có thể dưới dạng bảng điện tử hoặc hệ thống quản lý dữ liệu, nhằm cập nhật tình trạng thực hiện từng chỉ tiêu, thay vì đến cuối năm mới tập hợp hồ sơ giấy.
Ba là, tăng cường tập huấn không chỉ cho cán bộ làm đầu mối công tác tư pháp mà cả những cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ liên quan đến các tiêu chí. Chuẩn tiếp cận pháp luật là kết quả tổng hợp của chính quyền cấp xã nên không thể xem đây là nhiệm vụ riêng của một cá nhân hoặc một lĩnh vực chuyên môn.
Bốn là, việc kiểm tra, hướng dẫn cần tập trung vào những chỉ tiêu có nguy cơ không đạt, nhất là chỉ tiêu có yêu cầu về tỷ lệ, thời hạn, chất lượng đầu ra hoặc phụ thuộc nhiều bộ phận phối hợp.
Năm là, cần gắn kết quả đánh giá với việc phân tích nguyên nhân và xây dựng giải pháp cải thiện. Sau mỗi kỳ đánh giá, đối với những xã, phường chưa đạt, cần xác định cụ thể chỉ tiêu chưa đạt, nguyên nhân chủ quan, khách quan và biện pháp khắc phục. Đây mới chính là giá trị quản trị quan trọng nhất của cơ chế đánh giá.
Thực tiễn tỉnh Cà Mau cho thấy hệ thống văn bản chỉ đạo, kế hoạch, thủ tục nghiệp vụ và cơ chế bảo đảm nguồn lực đã từng bước được hình thành tương đối đồng bộ. Vấn đề quan trọng trong giai đoạn tiếp theo là biến sự đồng bộ đó thành một hệ thống tổ chức thực hiện liên thông ngay tại cấp xã.
Muốn làm được điều này, cần chuyển trọng tâm từ “làm hồ sơ để được công nhận” sang “thực hiện tốt từng nhiệm vụ để đương nhiên đủ điều kiện được công nhận”; từ “đánh giá cuối năm” sang “theo dõi và quản lý quá trình”; từ trách nhiệm của riêng cán bộ đầu mối sang trách nhiệm chung của UBND cấp xã và từng bộ phận được giao thực hiện chỉ tiêu.
Khi chuẩn tiếp cận pháp luật được tổ chức theo cách đó, yêu cầu phải đạt 100% tiêu chí, chỉ tiêu sẽ không chỉ là một điều kiện mang tính kỹ thuật để xét công nhận, mà trở thành động lực thúc đẩy chính quyền cơ sở thực hiện đầy đủ hơn trách nhiệm của mình, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tiếp cận pháp luật của người dân./.
Hứa Nguyên

