Qua sự giới thiệu của một người quen, anh B và chị K đã đến gặp bạn S, là sinh viên đại học năm thứ tư, đang cần tiền để giải quyết hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Sau khi thỏa thuận, chị K và chồng đã thống nhất nhờ bạn S mang thai hộ cho chị K bằng biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm với số tiền là 500 triệu đồng. Bạn S đã nhận trước một khoản tiền đặt cọc là 100 triệu đồng thì bị gia đình phát hiện và ngăn cản. Trong trường hợp này, mang thai hộ có vi phạm pháp luật không và biện pháp xử lý như thế nào?

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Luật Hôn nhân và gia đình cũng nghiêm cấm hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại. Cụ thể, theo điểm g, khoản 2, Điều 5 quy định cấm: “thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính”.

Khoản 23, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

Điều 60, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; Hành chính tư pháp; Hôn nhân gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, có quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại”.

Trong tình huống này, bạn S nhận tiền để mang thai hộ cho vợ chồng chị K và anh B đã vi phạm quy định về mang thai hộ. Như vậy bạn S sẽ phải trả lại chị K 100 triệu đồng đã nhận trước và giao kèo mang thai hộ bị hủy bỏ. Trước khi nhờ người mang thai hộ, anh B và chị K phải tìm hiểu rõ để đảm bảo điều kiện người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 95, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2024.